Mạch ngầm Đất Tổ - Một hành trình trở về trong tầng sâu ký ức dân tộc
Đứng trên mỏm đá nhô ra cao nhất của đỉnh Nghĩa Lĩnh vào những ngày đầu tháng 3 âm lịch này, khép hờ mi mắt, bạn sẽ nghe thấy một thanh âm rất lạ của thời cuộc. Một luồng gió buốt ngậm đầy sương mây từ dải Tam Đảo cuộn trào đổ xuống, quấn lấy nhịp thở thâm u, hoang hoải của đại ngàn xứ Mường, rồi cùng thâu nạp về giữa lòng thung lũng nơi sông Hồng và sông Lô mải miết giao hòa. Đất Tổ hôm nay đã vươn mình, lồng lộng khoác lên vai vóc dáng của một miền không gian mới.

Việc gom ba vùng đất (Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ) lại thành một "siêu tỉnh" Phú Thọ, ngẫm ra hiền lành giống hệt chuyện một đại gia đình trung du xúm xít dọn về chung một nếp nhà.
Sẽ thật ngỡ ngàng khi giờ đây, lật giở một trang sáng tác mới của Đất Tổ, người ta sẽ bắt gặp những luồng sinh khí đan bện vào nhau mượt mà đến lạ. Hơi sương bảng lảng quyện đầy vai áo của vạt rừng Tam Đảo cứ thế lững thững trôi vào nhịp điệu Mo Mường trầm mặc, thâm u dội ra từ vách núi Hòa Bình. Cả cái bi tráng của buổi đầu giữ nước vùng Mê Linh nay cũng êm ái gối đầu lên nhịp Hát Xoan dặt dìu ven bờ sông Lô, sông Hồng.

Du khách thập phương trở về Khu di tích lịch sử Đền Hùng từ sáng sớm. Ảnh: Minh Quyết - TTXVN
Đỉnh Nghĩa Lĩnh tháng Ba, giữa không gian thâm u của ngàn cây chò chỉ, Đất Tổ không nói với chúng ta bằng những bản hùng ca huyền thoại. Cội nguồn chọn cách rì rầm cất lời qua những điều thầm lặng nhất: một bậc đá mòn vẹt gót chân vạn đại, một phiến đá lạnh ủ ấm lời thề, hay một vết xước trên mảnh thạp đồng hoen gỉ... Chạm vào Nghĩa Lĩnh, là chạm vào những vỉa tầng trầm tích đang nhẫn nại thở, để nghe ngọn núi thiêng khe khẽ giải mã cái căn cước tĩnh lặng của nòi giống mình.
Lớp sóng Phùng Nguyên và bến đợi âm bổng xứ Mường
Ghé vào không gian tĩnh lặng của Bảo tàng Hùng Vương dưới chân núi, tách khỏi dòng người ồn ã, đứng lặng trước những tủ kính trưng bày. Quá khứ lẩn khuất đâu đây, tịnh chẳng mờ ảo như sương khói truyền thuyết. Cội nguồn nằm ngay đó, thô ráp và rấm rứt ở cái viền sứt mẻ của chiếc rìu đá, ở vệt hoa văn ngoằn ngoèo lặn nổi trên mảng thạp đồng lốm đốm màu thời gian xanh lét.
Sáng nay sương lấp ló từ rẻo cao xứ Mường lững thững bay sang, quấn lấy mấy nẻo đồi trung du. Dưới sâu lớp đất móng đền, chừng như có những thanh âm cũ kỹ đang cựa mình thức dậy.
Ánh mắt tôi neo lại ở mấy mảnh vỡ vụn của gốm Phùng Nguyên, Đông Sơn, tự dưng thấy trong lòng ram ráp. Cách một lớp kính trong veo, mà ngỡ như đầu ngón tay mình đang thực sự chạm vào bề mặt sần sùi của mẻ gốm nung lỡ dở, đang miết dọc theo vết xước trên cái lưỡi cày đồng đã ố màu.
Từ những hiện vật nín câm ấy, chừng như vẫn âm thầm tứa ra một thứ mùi ngai ngái. Đó là mùi của mồ hôi mặn chát lọt xuống bùn non, tứa ra từ những cuộc vật lộn vỡ hoang nương bãi. Đời cha ông thuở ấy nhọc nhằn bám rễ.
Để có bát cơm gạo mới, để giữ được nếp nhà qua những mùa bão giông hay đêm đen thú dữ rình rập, người xưa đã phải trần lưng lặn lội, chắt chiu cào từng vốc đất để che chắn cho sinh mệnh của giống nòi.


Các hiện vật gốm trong trưng bày chuyên đề "Văn hóa thời đại Hùng Vương - Tinh hoa hội kiện - nằm trong chuỗi hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa Du lịch Đất Tổ năm Bính Ngọ 2026- Ảnh: Thu Hương - TTXVN
Giỗ Tổ năm nào cũng lất phất mưa bay. Chuyện "dọn về chung một nhà" của ba vùng đất Phú Thọ, Hòa Bình và Vĩnh Phúc - một dải sơn cước ôm lấy nhau - vô tình kéo theo cả những nếp sóng ngôn ngữ bấy lâu còn chìm khuất. Những thanh âm trầm đục mang hơi hướm xứ Mường ùa về, quấn quít lấy rặng tre đầu ngõ.
Nghĩ cho cùng, tiếng nói mới là thứ bảo tàng cất giữ ký ức dai dẳng nhất. Nó lẩn vào hơi thở, lặn vào nhịp tim, không lo vỡ nát như mảnh gốm, chẳng sợ han gỉ như đồng thau.
Cổ vật giấu mình dưới đất, tiếng người rủ rỉ bên vai. Đất đai và hơi thở cứ thế vin vào nhau mà nảy nở. Chẳng cần gồng gánh những thanh âm vang rền xa xôi, nhịp điệu thủ thỉ ấy cứ nhẹ bẫng trôi theo vòng khói nhang, ủ ấm cõi lòng những người đang vịn từng bậc thềm rêu phong tìm về nương tựa gốc gác.
Chạm vào vân gỗ rêu phong, nghe khối đá cất lời
Áp khẽ lòng bàn tay lên bề mặt nhám lạnh của phiến đá thề trước khoảng sân nhỏ Đền Thượng. Sương sớm hãy còn giăng mắc, phả thứ hơi lạnh ngàn năm trượt qua da thịt, chạy dọc sống lưng.
Quần thể non thiêng Nghĩa Lĩnh không phô trương đồ sộ để bóp nghẹt không gian hay thị uy với đất trời. Tất cả cứ thu mình lại, khiêm nhường giấu nếp ngói vảy cá chìm khuất dưới tán lá chò chỉ. Bao nhiêu mật mã của nòi giống, ông cha lẳng lặng cất giấu vào tận cùng vân gỗ, thớ đá.
Khói nhang trầm lẩn khuất từ sớm tinh sương cứ vương vít, quấn lấy vệt hương ngai ngái của thảm lá mục ủ mình qua những đêm sương. Gió xạc xào lướt qua rặng chò chỉ già, rũ vài giọt sương đêm rỏ xuống ướt đẫm vai áo mớ ba mớ bảy của mấy bà mẹ quê lầm lụi bước phía trước.




Cổng Đền Hùng và không gian Đền Thượng với bức hoành phi "Tổ muôn đời của nước Việt Nam" - Ảnh: Lương Đình Khoa
Tôi đưa tay chạm vào cột đá mát rượi nơi cổng đền. Những cánh chim lạc vươn nếp chạm trổ, như đang chực chờ cựa mình quạt gió bay lên. Ngước nhìn vòm cuốn mềm mại vắt ngang, đang êm ái ôm trọn lấy những khối trụ vuông vức vững chãi, thấy đất trời vuông tròn như hội tụ ngay trên đỉnh đầu.
Ngước mắt lên, nẻo đường uốn lượn dẫn thẳng lên Đền Thượng. Hàng vạn bước chân, hàng triệu lớp dép cói, gót vải của ông bà từ thuở nào đã đi qua, đã miết mải mài võng cả bề mặt đá. Mỗi nếp lõm xám trên mặt từng bậc đá ấy, một nếp nhăn thời gian cất giữ vẹn nguyên lòng thành kính.
Lên đến Đền Thượng, miết ngón tay theo những vệt lõm xù xì, tôi nghe đá tảng cất lời. Những vệt dãi dầu nắng mưa tạc lên bề mặt khối đá cơ man nào là nếp nhăn của dâu bể. Tựa như một cuốn biên niên sử không lời cất giữ vẹn nguyên khí phách Lạc Hồng, khối đá im lìm ấy nhẫn nại ôm ấp lời thề giữ nước thủa Thục Phán An Dương Vương. Lời thề rỏ xuống thấm vào đất, lặn vào đá.
Ngước mắt lên lăng mái, những bức hoành phi, câu đối mang đậm phong thái mỹ thuật thời Lê, thời Nguyễn đang nhòa đi trong khói nhang mỏng mảnh. Lớp sơn son thếp vàng dẫu phai màu, bong tróc qua tháng năm lại tình cờ để lộ ra những đường vân gỗ nứt nẻ mà gân guốc vô cùng. Những hoa lá hóa rồng chạm trổ trên xà ngang như đang cựa mình, cuộn trào một thứ sinh khí rần rật.
Những nét đục đẽo ấy không chỉ để điểm tô cho rực rỡ. Đó là mồ hôi, là thao thức chưng cất thành hình hài về một nếp thái bình, thịnh trị mà người xưa gửi gắm.
Lời dặn dò khắc trên đá tảng và ánh sáng chiều không gian thứ tư
Tôi bước chậm lại, nương theo những bậc đá thoai thoải dẫn xuống ngã ba Đền Giếng. Bàn tay vô thức miết nhẹ lên bề mặt lạnh nhám của phiến đá đặt trước bậc thềm. Chiêm ngưỡng dòng chữ: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước", lòng tự dưng thấy lặng đi.

Bậc cửa Đền Giếng đặt bia đá khắc lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Ảnh: Lương Đình Khoa
Giữ nước là bảo vệ đất nước nơi tiền tiêu bão dông, là chắt chiu, ủ ấm cội rễ nòi giống, là lan tỏa niềm tự hào cội nguồn dân tộc trên không gian mạng trong thời đại số…
Ngước nhìn bức phù điêu "Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong" giữa nền trời ráng đỏ tháng Ba. Lời dặn dò năm xưa tạc vào đá, giờ như ngấm ngầm vào từng nhịp đất đai.
Dưới chân núi Lĩnh hôm nay, dải đất Phú Thọ đang vươn mình. Sự gom tụ của ba vùng đất hiền hòa chẳng phải để tạo ra những cuộc chuyển mình ầm ĩ. Nó giống như ba dòng suối nhỏ tự tìm về, nương tựa vào nhau, lẳng lặng bồi đắp cho quê hương một vóc dáng mới, đằm thắm và vững chãi hơn.
Mảnh đất này cứ thế neo giữ lấy sự hoài cổ, nhưng cách vươn rễ lại diệu kỳ và len lỏi khôn lường. Kể từ khi dự án số hóa "Đường vào vương quốc các Vua Hùng" (ra đời nhân dịp Giỗ Tổ 2022) âm thầm len lỏi vào đời sống, Đất Tổ như mở ra một cánh cửa khác, băng qua mọi lực cản vật lý.
Thật lạ khi mùi khói trầm cay nồng, hay cái hơi lạnh toát ra từ lớp rêu phong lại có thể theo những đường truyền không dây bay đi vạn dặm. Nửa vòng Trái Đất bên kia, trong một căn gác nhỏ lộng gió Paris hay dưới vòm trời rợp nắng California, có người kiều bào mái tóc điểm bạc run run đeo lên mắt chiếc kính thực tế ảo. Nước mắt tuổi già ứa ra, rịn qua những nếp nhăn của bao tháng ngày viễn xứ. Bàn tay đồi mồi khẽ chạm vào khoảng không, rưng rưng như mình đang thực sự được cúi lạy dưới thềm Đền Thượng. Khoảng cách dặm trường bỗng chốc tan biến. Di sản quê nhà chẳng nề hà không gian, cứ thế tự do neo đậu vào những tâm hồn xa xứ giữa bao nhiêu múi giờ chênh lệch.
Quá khứ lặn vào trong, lặng lẽ trở thành lớp mùn màu mỡ nuôi dưỡng hiện tại. Phú Thọ hôm nay cứ điềm tĩnh giữ lấy cốt cách trung du, lấy bề dày văn hóa làm rễ để bước vào thế giới mới.
Dưới tán rừng già, những bức tượng đá trầm mặc ngàn năm vẫn nhẫn nại đứng đó, độ lượng mỉm cười nhìn dòng chảy của thời đại đang bện những nhịp cầu vô hình, mang hình hài non nước trôi đi muôn phương.

Không gian Đền Thượng về đêm - Ảnh Tùng Vy
Có những thứ mạch ngầm không thể đo vẽ bằng bản đồ địa lý, cũng chẳng thể đong đếm bằng ranh giới hành chính. Nó lặn sâu dưới thảm lá mục ủ sương, lẩn khuất trong vị chát của một ngụm trà rừng, hay cuộn trào nơi bến nước ngã ba sông đỏ quánh phù sa. Về núi Nghĩa Lĩnh, bước lùi lại khỏi những đám đông xênh xang áo xống, khép hờ mắt lại để nghe đại ngàn thở. Ấy là lúc ta chạm vào linh khí của Đất Tổ - một cội rễ mộc mạc, hiền từ đang chở che cho muôn triệu phận người.
Hơi thở thâm u vắt qua tán chò chỉ ngàn năm
Bước vào không gian Đền Hùng lúc trăng chênh chếch vắt ngang đỉnh núi là trôi vào một chiều không gian hoàn toàn khác. Rừng quốc gia Nghĩa Lĩnh lúc này không ngủ. Nó đang thở. Tiếng lá chò chỉ cọ vào nhau xạc xào rải đều nhịp đập của một lồng ngực khổng lồ. Dưới luồng ánh sáng hắt bóng nghệ thuật nhạt nhòa, dải rừng nguyên sinh hiện lên như một vòng tay xanh thẫm, êm ái vỗ về mấy mái đền rêu phong mờ tỏ.
Càng bước sâu, không khí càng loãng ra, ướt đẫm khứu giác bằng mùi ngai ngái của thảm lá mục ủ men sương, mùi nhựa tứa ra từ những thân cành dạn dĩ. Mỗi bước chân dẫm lên thảm rêu mềm, nghe bâng khuâng một niềm thành kính. Rừng ở đây mang linh khí chứ chẳng phải thứ cây cỏ vô tri. Cứ ngước nhìn cái thế rồng cuộn, hổ ngồi của từng gốc cổ thụ vặn mình trong bóng đêm mà xem. Chúng đứng đó, trầm mặc trấn giữ mạch nguồn phong thủy vượng khí của non thiêng.
Mắt tôi neo lại trước cây vạn tuế cổ thụ nơi khoảng sân Đền Hạ. Gọi là cây e chừng chưa đủ, dáng vẻ tĩnh lặng ấy giống một vị thiền sư hơn. Khẽ khàng đặt lòng bàn tay lên lớp vỏ xù xì, gai góc, hơi buốt lạnh của sương đêm truyền một luồng râm ran chạy dọc đầu ngón tay. Khép hờ mắt lại. Thời gian ở đây chẳng buồn đo đếm bằng những vòng quay hối hả của kim đồng hồ, nó tính bằng những lớp vỏ già khô đang âm thầm tái sinh.
Ánh sáng lướt qua những chiếc lá xanh rờn, sắc lẹm vút thẳng lên trời. Sức sống của nòi giống như bị nén chặt rồi bung nở trong cái dáng đứng chậm rãi, kiên gan ấy. Chẳng cần chắp tay vái lạy hay buông lời cầu xin, lòng người lữ khách tự rưng rưng, tan ra, hòa làm một với nhịp thở tĩnh lặng của đại ngàn.
Nước giữa non cao, nước gom hình hài châu thổ
Về chốn non thiêng, người ta vẫn thường ngửa mặt nhìn vòm trời Nghĩa Lĩnh, thắp nén nhang đỏ lửa cầu vọng Tổ tiên nhưng đừng quên cúi xuống nếm thử một vị ngọt nguyên sơ đang dội lên từ tầng sâu lòng đất. Nước - thứ vật chất mềm mại, nhún nhường nhất trần đời, ngẫm ra lại mang trong mình sức mạnh kiến tạo mãnh liệt nhất. Tín ngưỡng nương tựa vào cội nguồn chưa bao giờ là thứ trôi nổi trên những tầng mây hư ảo. Nó cắm rễ vào mạch ngầm đứt gãy của núi đồi, cuộn chảy rần rật nơi ngã ba sông nước.
Giữa lưng chừng núi vắt vẻo mây bay, mạch nước Giếng Cổ muôn đời cứ thế lặng lẽ dâng đầy. Mặt nước phẳng lặng như tấm gương soi chiếu phẩm hạnh, khẽ khàng nhắc nhở người lữ hành về sự trong trẻo trước phút giây quỳ dưới chân Tổ Mẫu, Tổ Phụ.
Chuyện sáp nhập ranh giới hành chính rộn rã hôm nay, ngẫm ra, tựa như một sự thuận tòng êm ái trước quy luật "tụ thủy, tụ nhân" vĩ đại của tự nhiên. Ba miền đất chụm lại, dòng nước cứ thế gom phù sa đắp nên dải châu thổ phì nhiêu, gom luôn cả những con người mải về chung một bến đợi quê nhà. Mạch nước vẫn âm thầm chảy, nối non cao với biển lớn, mang theo cái linh khí vĩnh cửu của đất đai thấm đẫm vào từng mạch máu.
Đánh thức vị chát đại ngàn trên nhang án tảng sáng
Mâm cúng dâng Tổ lúc tảng sáng lờ mờ sương lạnh chẳng chói lòa rực rỡ đèn nến. Nó đằm lại trong thứ ánh sáng mờ tỏ của hừng đông. Thứ đầu tiên len lỏi đánh thức khứu giác lúc này chẳng phải là mùi ngầy ngậy của đỗ xanh thịt mỡ đùm trong nếp bánh chưng, mà là một vệt khói mỏng mảnh mang theo cả cái đắng chát, ngòn ngọt của rừng sương. Khung địa giới mới của Đất Tổ năm nay mở rộng vòng tay, êm ái ôm trọn lấy đại ngàn mây mù Tam Đảo và thảm rừng lõi Xuân Sơn. Gió từ đỉnh non thiêng quấn theo cả kho báu y lý bí truyền của đồng bào Mường, Dao rón rén đặt lên nhang án.
Lâu nay, câu chuyện Vua Hùng lội bùn dạy dân cấy lúa cứ mải miết trôi qua các nếp nhà, vô tình lấp bóng mất một thứ di sản rưng rưng khác: y lý thảo mộc. Rừng đại ngàn đâu chỉ biết trút lá rụng hay hiến dâng gỗ lạt. Rừng thầm lặng chưng cất thứ nhựa sống để xoa dịu, chữa lành.
Rót một chén trà rừng ủ sương mai dâng lên ban thờ, khói mỏng tang bốc lên, nước sóng sánh ươm vàng như màu nắng non. Chạm nhẹ môi vào, vị đắng gắt trôi tuột qua cuống họng, để rồi ngay sau đó là một vệt ngọt hậu vương vấn mãi trên đầu lưỡi, rịn qua cả những nhọc nhằn. Quanh quất đâu đây trên án thư, củ sâm Ngọc Linh lặn lội ngàn dặm từ đỉnh núi mù sương tít tắp dải miền Trung cũng kịp tề tựu, dâng trọn linh khí tinh khiết nhất của đất trời lên chốn cội nguồn.


Một góc không gian thờ Tổ cùng tác phẩm tạo hình Vua Hùng bằng gốm của các nghệ nhân tại Không gian Gốm Bát Tràng - Ảnh: Lương Đình Khoa
Bàn thờ Tổ lúc này thu nhỏ lại, gói ghém thành một bức tranh quê kiểng mộc mạc của muôn nẻo đất đai. Từng thức quà dắt díu theo một mảnh hồn xứ sở. Chút mứt sen Hà Nội đưa hương thanh tao, gói ghém cái phong vị hào hoa, vương giả của chốn kinh kỳ ngàn năm, nằm e ấp ngay cạnh mớ lá thuốc hoang sơ còn ngái mùi rễ mục, vừa được cô gái Dao bẽn lẽn nhặt ra từ chiếc gùi mây hãy còn đẫm ướt sương đêm. Mọi khác biệt, mọi vùng miền xa ngái tự nhiên tan rã, ngoan ngoãn nép vào nhau dưới một tiếng gọi thầm thì của chung một dòng máu.
Một tàn nhang cong vút khẽ khàng rụng xuống, xốp mềm chạm vào rễ cội vạn tuế sần sùi. Hạt sương đọng trên chiếc lá chò chỉ buông mình rỏ xuống bát nước Giếng Cổ trong vắt, làm chao đảo bóng hình nhánh sâm quý đang in hằn trên mặt nước. Đứng giữa cái tĩnh lặng nhường ấy, con người bỗng thấy mình bé mọn vô ngần, tự nhiên muốn buông thõng bờ vai, nương tựa hẳn vào hệ sinh thái độ lượng đang ôm ấp lấy đỉnh núi này. Những xước xát nhọc nhằn sau những tháng ngày bươn chải mưu sinh bỗng nhiên nhẹ bẫng, tan đi bởi thứ hương dược non thiêng cứ ngào ngạt dâng lên giữa thinh không.
Nắng bắt đầu lách qua màng sương đặc quánh đang dần loãng ra. Nhịp chày đâm đuống đâu đó dưới thung lũng dội lên từng tiếng thùm thụp, xa xăm. Vệt khói nhang trên ban thờ tản ra, mỏng dần, mỏng dần rồi lẫn hẳn vào nền mây bàng bạc.
Dư vị của ngụm trà rừng vẫn êm ái đọng nơi cuống họng. Tôi nhắm mắt, xoay vai bước xuống những bậc đá rêu phong. Ống kính của tâm tưởng cứ thế lùi xa dần, nhòe đi. Mọi cảnh vật thu bé lại, lấp lóa dưới nắng sớm, chỉ còn lại tiếng rừng già xạc xào hát, và một mạch sống êm ru ngàn năm cứ thao thiết chảy, vương vất mãi bềnh bồng theo gót chân người về...

Công tác chuẩn bị cho Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa - Du lịch Đất Tổ 2026- Ảnh: Tạ Toàn - TTXVN
Có một thứ di sản không nằm ở gỗ đá, không đúc bằng đồng thau, lại bền bỉ giăng mắc khắp các nẻo đường dẫn lên đỉnh Nghĩa Lĩnh. Nó là tấm căn cước vô hình được tạc bằng những giọt mồ hôi, những vạt áo che chung một cơn mưa rét mướt. Khi hai tiếng "đồng bào" khẽ khàng cất lên, ấy là lúc ta nghe thấy nhịp đập của một đoạn "mã gen" kỳ diệu, thứ "di truyền học tâm thức" đã âm thầm ấp ủ lấy sinh mệnh nòi giống này qua vạn ngàn dâu bể.
Mưa lay phay nhè nhẹ. Giữa dòng người nhích từng bước chênh vênh trên bậc đá trơn trượt, một bàn tay lạ vội vã chìa ra đỡ lấy cụ già vừa lảo đảo chực ngã. Góc bên cạnh là một vạt áo mưa mỏng manh tuếch toác rách bên hông cứ cố kéo rộng ra, che chung cho một đứa trẻ tịnh không quen biết. Lòng tốt cứ tự nhiên cựa quậy, nảy mầm nhẹ bẫng như hơi thở như thế. Hai tiếng "đồng bào" ấp ủ lấy vạn tâm hồn đang nương tựa vào nhau dưới bóng rêu phong. Hai tiếng "đồng bào" lẩm nhẩm trên môi, thấy rưng rưng mà ấm lòng. "Cùng chung một bọc" - có lẽ trên thế giới, hiếm hoi mới có một khái niệm nhân xưng mang thứ thi ảnh rực rỡ và nồng nàn đến thế.
Sự dung dị lắm khi lại là nơi cất giấu những điều lớn lao nhất. Thử cúi xuống nhìn vệt bùn lấm lem bê bết trên gấu quần của dòng người đi lễ hội mà xem. Giữa gió lạnh, cái lùi bước nhường nhau một chỗ đứng dưới mái hiên hẹp che mưa, một ngụm nước ấm vội vã chuyền tay nhau giữa ranh giới của những người dưng, ấy chính là thứ mã gen di truyền rực rỡ nhất. Lòng tốt rỏ xuống bậc đá Nghĩa Lĩnh chẳng phải bài học vay mượn của những triết lý xa xôi. Nó ngấm sẵn trong huyết quản, là sự phản xạ vô điều kiện, nhói lên đầy bản năng của những tế bào từng chung nhau một phôi thai ủ ấm thuở hồng hoang.
Cơn mưa ấy cứ dùng dằng vắt qua những ngày hội, làm ướt vai áo người hành hương, nhưng lại tỉ mỉ làm một công việc thầm lặng mà vĩ đại của đất trời: thắp lên sự nâng đỡ, yêu thương của những người cùng chung một nguồn cội.
Nước mắt bầu trời và vạt lụa bao dung của mẹ
Tiếng mưa lách tách gõ nhịp trên những mái ngói vảy cá âm dương rêu mốc gợn lên một khúc vĩ thanh dìu dặt. Người lữ khách lặn lội đi hội thường hay phiền lòng vì cái rét nàng Bân mang theo mưa phùn ập đến cản lấp bước chân. Ít ai chịu tĩnh tâm để nghe đất trời đang rầm rì tự sự.
Giọt nước từ thinh không thả xuống, trượt dài trên viền cong gắt gao của mái Đền Mẫu, êm ái gột sạch lớp bụi trên mặt sân. Dân gian rủ rỉ gọi đó là cơn "mưa rửa đền" - khoảnh khắc thiên nhiên tự mình dọn dẹp, thanh tẩy không gian cho thật vẹn sạch trước giờ tế lễ thiêng liêng.
Cơn mưa rỏ xuống trước ngày chính giỗ ngậm đầy mùi ngai ngái của thảm cỏ dại đang cựa mình nứt mầm. Bàn tay của thiên nhiên vuốt ve vạn vật. Nước dội xuống Nghĩa Lĩnh tịnh không phải để thử thách lòng thành người đi lễ, mà mang theo khát vọng sâu thẳm thẳm của một nền văn minh cắm rễ vào bùn đất: cầu mưa thuận gió hòa.
Hạt mưa xoa dịu cái hanh hao của gió bấc xót lại, tưới tắm cho những thửa ruộng bậc thang nhấp nhô đang háu nước chờ gọi hạt lúa nảy mầm.




Dòng người hướng về núi Nghĩa Lĩnh dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng và khung cảnh rước kiệu vào Đền Thượng - .Ảnh: Minh Quyết - TTXVN, Lương Đình Khoa
Lịch sử giữ nước của dân tộc thường hằn in những dấu tích của rồng cuốn, của núi cao, của những vị tướng sĩ vạm vỡ giáo mác trên tay. Lạ thay, khi lách bước vào không gian tĩnh lặng của Đền Mẫu Âu Cơ hay dừng chân bên bóng rợp Đền Giếng, người ta bỗng chạm vào một luồng khí vị hoàn toàn khác. Đó là dải lụa mềm êm ái vắt ngang qua dòng thời gian bi tráng. Sự hiện diện của Tổ Mẫu, của hai nàng công chúa Tiên Dung, Ngọc Hoa mang đến một không gian dịu dàng, hiền từ tột bậc cho những phận người quanh năm lam lũ rơm rạ.
Tạo hóa đặt để non thiêng một sự cân bằng tuyệt đích. Cha là non cao sừng sững, Mẹ là nước biếc róc rách hiền hòa. Cha xông pha dựng nước bằng mũi tên đồng buốt lạnh, Mẹ ấp ủ nuôi lớn con người bằng nong tằm cái kén tơ mềm. Giỗ Tổ đâu chỉ để chắp tay tưởng nhớ những chiến công hiển hách long trời lở đất. Khói nhang cuộn lên từ mái Đền Mẫu sáng nay là một tiếng thì thầm rưng rưng biết ơn sự tảo tần, đức hy sinh không đo đếm được của những người phụ nữ. Họ đã dùng vạt áo bao dung của mình, lẳng lặng dệt nên một lớp màng bảo vệ vĩnh cửu, giữ lấy nhịp thở và sinh mệnh mong manh của nòi giống qua vạn ngàn dâu bể.
Hương trầm bay ngược gió và những cột mốc không biên giới
Mùi nhang quế nồng đượm thắp lên từ rạng sáng đọng lại mãi dưới vòm chò chỉ ngút ngàn. Gió trên đỉnh Nghĩa Lĩnh cuộn lấy dải khói mỏng manh ấy, thổi thốc qua những cánh đồng châu thổ rực vàng, rồi nương theo những con sóng viễn dương bay đi vạn dặm.
Mùng 10 tháng Ba, trong một căn hộ nhỏ hẹp nép mình giữa Paris hoa lệ, hay sâu trong một con hẻm rợp bóng cây râm ran tiếng bìm bịp ở miệt thứ An Giang, những vệt khói trầm vẫn lặng lẽ cuộn lên trước một nhang án đơn sơ. Cội nguồn, ngẫm ra, chẳng bao giờ chịu nằm yên ở một tọa độ đóng đinh trên bản đồ rạch ròi ranh giới. Nó lẩn khuất, cắm rễ vào tận cùng tâm khảm.
Nhịp chày giã gạo thình thịch vẳng lại từ một hội làng nào đó dưới chân non bỗng gõ nhịp vào miền ký ức. Lịch sử của nòi giống này là một cuộc hành trình đẫm mồ hôi của những bước chân trần tịnh không ngơi nghỉ.
Đời cha ông thuở trước dứt áo rời non thiêng, mím môi xẻ núi, lội sình lầy đầm phá mải miết đi về phương Nam mở cõi. Bàn chân nứt nẻ chạm đến đâu, từng tấc "Đất Mới" phôi thai đắp lên đến đó. Lạ lùng thay, hễ đất mọc nếp nhà, y như rằng sẽ có một ngôi miếu thờ Vua Hùng lặng lẽ mọc rễ.
Tín ngưỡng lạy vọng về chốn non thiêng Nghĩa Lĩnh lấp lánh một vẻ đẹp độc bản vô cùng. Chẳng có vị giáo chủ quyền uy nào ngự trị, tịnh không có những rào cản giáo lý khắt khe đe nẹt con người. Vật phẩm dâng lên án thư đôi khi chỉ là tấm bánh chưng vuông vức, gói ghém vào trong đó bao nhiêu mồ hôi chát mặn rỏ xuống luống cày mùa cạn. Tín ngưỡng ấy mộc mạc gắn kết muôn triệu con người bằng một dòng chảy mềm mại mà bền bỉ hơn mọi sợi dây neo: Lòng biết ơn.
Đêm buông. Ngước nhìn bầu trời tháng Ba, ánh sáng nhấp nháy lướt đi của những chuyến bay đêm vạch lên thinh không những đường xẻ ngang dọc. Một thế hệ kiều bào thứ hai, thứ ba đã sinh ra ở một bờ đại dương khác. Giữa những nền văn hóa cuồn cuộn va đập, chen lấn vào nhau, Ngày Quốc Tổ Việt Nam toàn cầu mọc lên như một điểm tựa dẻo dai, một sợi dây neo đậu cuối cùng xoa dịu những chênh vênh.
Chạm bàn tay lóng ngóng vào mâm cúng vọng lập cập bày biện nơi xứ tuyết, môi mấp máy gọi hai tiếng quê nhà, tự dưng nước mắt ứa ra, thấm tình nguồn cội.

Nghệ nhân nhân dân Đỗ Thị Thanh Nhàn biểu diễn nghệ thuật ca trù trong không gian Lễ hội Đền Hùng năm 2016
Không đúc bằng đồng thau, cũng chẳng tạc vào bia đá, hồn cốt của một nền văn minh cắm rễ vào bùn nước đôi khi lẩn khuất ở những điều mỏng mảnh nhất. Ấy là một vệt khói bếp ủ hương nếp dẻo thơm, là tiếng trống đồng dội vào vách núi gọi hạt lúa nảy mầm, và là bóng lưng lụm cụm quét từng chiếc lá khô xạc xào trên bậc thềm rêu mốc.
Tháng Ba về, trôi giữa dòng người trẩy hội Đất Tổ, cứ thử nhắm mắt lại để khứu giác và thính giác dẫn đường. Bạn sẽ thấy non nước vạn dặm đang bềnh bồng thu lại, vừa vặn lọt thỏm trong một hơi thở bao dung, mộc mạc của nếp nhà.
Tần số cội nguồn và khúc ca của đất trời
Sương giăng mờ mịt, quấn lấy chóp núi Nghĩa Lĩnh. Khoảnh khắc người chủ tế vung nhịp dùi, nện một đòn dứt khoát xuống mặt trống đồng, cả không gian bỗng rung lên bần bật. Âm ba trầm hùng ấy xé toạc màng sương, dội thẳng vào vách đá, rồi nện từng nhịp chắc nịch vào lồng ngực hàng vạn người đang nín thở dưới chân đền.
Xuyên qua những hoa văn khắc vạch khô cứng tạc trên mặt đồng hoen gỉ, hãy chỉ để đôi tai mà nghe. Tiếng trống là một thứ "tần số" nguyên thủy, vang dội mà thiết tha. Tần số ấy cất lên dõng dạc để đánh thức thần linh, gọi dậy những "mã gen" Lạc Hồng hãy còn lặn sâu trong huyết quản. Chỉ một tiếng ngân rền rĩ thôi, thoắt cái đã đưa người ta về lại cái thuở Đông Sơn mây mù, nơi những bắp tay cuồn cuộn ánh đồng sạm nắng đang gióng giả nhịp thiêng giữ cõi.
Tiếng vang của kim loại vừa kịp ngân dài rồi tan vào thinh không, thì từ phía mấy mái đình làng ven núi, một giọng điệu dặt dìu, nảy hạt chợt xướng lên.
Xuyên qua cái bề thế của trống đồng là điệu Xoan luyến láy, thô mộc. Hát Xoan mộc lắm, không vướng chút son phấn diễn xướng lụa là. Đó là thứ thanh âm tứa ra từ cuống họng của những con người quanh năm lấm láp rơm rạ. Từng lời, từng nhịp mang theo hơi thở nồng nàn, ngửa mặt lên trời cầu mưa gọi gió, nỉ non dỗ dành hạt lúa cựa mình nứt nanh.
Trống đồng vang rền, uy linh tựa giọng nói vua cha. Hát Xoan dùng dằng, dặt dìu như lời ru nương tựa, bao dung của mẹ đất. Âm bổng và âm trầm cứ thế quấn lấy nhau, cuộn trào giữa không gian sương khói, dệt nên một khúc hoan ca vĩ đại của nền văn minh nông nghiệp.
Đứng giữa đền thiêng, mặc cho thanh âm dội qua màng nhĩ, lòng người lữ khách bỗng rưng rưng vỡ òa, tựa như đứa trẻ đi lạc vừa nghe thoảng tiếng mẹ gọi về ăn cơm chiều ngoài đầu ngõ.
Khói bếp ủ nếp thơm và bản đồ tụ linh tụ khí
Thanh âm dội vào vách núi rồi nhòa dần, nhường chỗ cho một làn hương cứ chờn vờn quấn lấy bước chân. Đêm rớt lại phía sau lưng. Bếp lửa bập bùng soi rọi những gương mặt bóng nhẫy mồ hôi của đám trai tráng, các mẹ các bà đang hối hả vớt mẻ bánh chưng dâng Tổ đầu tiên.
Mùi lá dong luộc chín tứa ra thứ nhựa ngai ngái, quện chặt lấy hương nếp dẻo quánh, vị ngầy ngậy của đỗ xanh thịt mỡ đâm xiên qua khứu giác.
Ẩm thực ngày Giỗ Tổ không ganh đua với mỹ vị sơn hào trần gian. Nó điềm nhiên thu mình lại trong hai dáng hình vuông - tròn giản dị, vậy mà gánh trên vai cả một niềm thành kính vô ngần.
Bóc lớp lá dong, tước đi sợi lạt in hằn vệt nước luộc xanh nhờ, thứ hiện ra trước mắt đâu chỉ là cốt bánh. Ấy là kết tinh của những giọt mồ hôi rơi trên luống cày mùa cạn. Chiếc bánh chưng, bánh giầy mang hình hài trời đất, êm ái ôm lấy sinh mệnh con người. Cắn một miếng nếp rền dẻo, nhai thật chậm, thấy cả vị mặn của phù sa đọng lại, vị hanh hao của gió sương ngàn đời người nông phu lầm lụi gồng gánh.




Người dân mang lễ vật đến dâng hương, kính lễ tưởng nhớ công ơn các Vua Hùng vào ngày giỗ Tổ và không gian Đền Giếng - Ảnh Minh Quyết - TTXVN, Lương Đình Khoa
Gác lại những khái niệm địa giới quen thuộc của những ngày cũ. Mâm cúng năm 2026 tự dưng rực rỡ và mênh mang lạ thường. Có chút vị chan chát ủ sương của búp trà cổ thụ hái từ đỉnh Tam Đảo, có nhánh sâm quý đẫm linh khí giấu mình dưới thảm rêu mù sương tít tắp xứ Mường Hòa Bình. Đất đai xích lại gần nhau vô tình vẽ lên một bản đồ sản vật tâm linh khổng lồ, nơi muôn ngả tinh hoa cứ thế rùng rùng tề tựu.
Nhìn bao quát sự mênh mang ấy rồi lại êm ái thu tầm mắt về, lùi lại một nếp nhà chật hẹp vội vã chốn thị thành, hay lách vào một nếp nhà sàn chơi vơi giữa đại ngàn sương giá. Ban thờ gia tiên sáng mùng 10 nhòa trong khói nhang tĩnh lặng. Một mâm ngũ quả nắn nót xếp đặt, một đĩa xôi gấc tươm mỡ đỏ au rực rỡ. Góc tĩnh lặng ấy thoắt cái thu nhỏ lại, hóa thành một Nghĩa Lĩnh thiêng liêng. Ở đâu có nếp nhà người Việt Nam, ở đó có nhang án Đền Hùng.
Dải lụa đào vắt qua những nếp nhăn thầm lặng
Nối dài trên cái nền xanh thâm u của ngàn cây chò chỉ, những lá cờ thần ngũ sắc phần phật vút lên vờn gió. Đất Tổ như quệt lên bức toan thâm u một mảng màu bừng tỉnh.
Đỏ gắt của dải lụa đào, vàng chóe của chùm tua rua tàn lọng, nâu trầm của những nếp ngói rêu phong vỡ vụn dưới vạt nắng tảng sáng xiên ngang. Hội Đền Hùng từ thuở hồng hoang ngàn đời nay, vốn dĩ thuộc về những bà mẹ quê mộc mạc áo mớ ba mớ bảy, thuộc về bờ vai tứa mồ hôi của đám trai làng rước kiệu, và lẩn khuất cả trong những bóng người còng lưng quét lá qua hết thảy bao mùa trăng lặn...
Tiếng trống dồn thúc liên hồi. Nhịp chòng chành, rộn rã của đoàn rước kiệu từ các ngả làng vùng ven đang cuồn cuộn đổ về, vây kín dưới chân Nghĩa Lĩnh. Hàng ngàn con người, mới hôm qua hãy còn lấm lem bùn đất, nay tạm gác lại chiếc cuốc, chiếc cày nơi xó bếp, trang trọng khoác lên mình bộ áo the khăn xếp. Họ chen vai sát cánh, dồn hết thảy niềm kiêu hãnh của làng xã vào từng nhịp nâng đòn gỗ.
Kiệu rước đến đâu, mồ hôi rỏ xuống đến đó. Cỗ kiệu lộng lẫy trôi bềnh bồng trên biển người, dập dềnh như một con thuyền đầy kiêu hãnh rẽ sóng.
Sự nô nức, rạng rỡ trên từng khuôn mặt đen sạm ấy là minh chứng chân thực nhất: Tín ngưỡng này mọc mầm từ đất bùn, nảy nở từ lòng người. Chính những người nông phu quanh năm chân lấm tay bùn ấy mới thực sự là chủ nhân của không gian thiêng, tự mình làm nên hội làng vĩ đại chứ chẳng phải vay mượn từ bất kỳ một thiết chế xa xôi nào.

Phiến đá khắc câu ca quen thuộc gợi nhắc ngày giỗ Tổ trên đỉnh Nghĩa Lĩnh - và nghi lễ rước kiệu về Đền Hùng trong dịp Giỗ Tổ Hùng Vương của các xã vùng ven - Ảnh Lương Đình Khoa, Tạ Toàn - TTXVN
Lách khỏi đám đông áo xống rực rỡ, tôi rẽ vào một nách đền nín lặng. Lọt thỏm giữa muôn vạn bước chân hối hả lướt qua, có một ông cụ thủ từ đang ngồi lẩn khuất dưới mái hiên sậm màu. Đôi mắt cụ mờ nhòe màu sương khói. Bàn tay nổi đầy gân xanh, thô ráp cứ run run, tỉ mẩn dấp từng vụn vàng lá mỏng tang, nắn nót dặm lại một vết xước nhỏ xíu trên chiếc hương án cổ.
Chếch ra phía mép thềm, tiếng chổi tre xèn xẹt lùa qua bậc đá rêu trơn, kiên nhẫn gom từng xác lá vừa lìa cành. Người đi trẩy hội nườm nượp, chẳng mấy ai rảo bước chậm lại để ngó nhìn. Bóng lưng lụm cụm và cái nhịp chổi khoan thai ấy cứ hiền khô, cặm cụi mà thương quá đỗi.

Đoàn dâng hương khởi hành lên núi Nghĩa Lĩnh dịp Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2025. Ảnh: Quốc Khánh - TTXVN
Những con người bé nhỏ ấy cứ lầm lụi, tĩnh lặng chăm chút cho đền miếu khỏi sự lạnh lẽo của thời gian. Họ vuốt ve gỗ đá nơi này - y như đang quét tước, lo toan cho chính cái sân đất, gian bếp chật hẹp ở quê nhà mình vậy.
Bóng họ in chúi xuống mặt sân rêu mốc, lặng lẽ tan vào sương. Bằng nếp sống mộc mạc và nhẫn nại, họ cứ thế ủ ấm cho cội nguồn, để vạn triệu người lữ khách lặn lội tìm về, ai cũng cảm nhận được một hơi thở nồng nàn, rưng rưng tựa như đang lật giở lại ký ức nơi bậc thềm nhà mình.

Đoàn dâng hương khởi hành lên núi Nghĩa Lĩnh dịp Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2025. Ảnh: Quốc Khánh - TTXVN
Chạm vào non Lĩnh, nhìn vượt qua lớp vỏ uy nghi của những đền đài, ta bỗng rưng rưng nhận ra cốt cách "con Rồng cháu Tiên" được nhào nặn lên từ những bờ vai trần sạm nắng, từ sức vóc gân guốc của những người nông phu hiền lành mà kiêu dũng muôn đời.
Bàn chân lội bùn và nhịp thở của làng
Sử sách muôn nơi vẫn hay mường tượng về những bậc đế vương phương Đông mặc lụa là gấm vóc, ngự chót vót trên ngai vàng xa khuất tầm mắt thường dân. Nhưng trở về non Nghĩa Lĩnh, ký ức lại êm ái mở ra một bức phác họa hoàn toàn khác.
Bức tranh ấy ướt đẫm mồ hôi, sực nức mùi bùn non lật dưới cái nắng tháng Ba hanh hao. Ở đó, người đứng đầu một cõi chẳng nề hà đi chân trần, tự xắn ống quần lội bì bõm xuống những thửa ruộng sình lầy, vung roi cày những sá Tịch điền đầu tiên cho dân cấy lúa. Cái uy quyền tột đỉnh của người Việt Nam, ngay từ buổi bình minh dựng nước, hóa ra lại được nắn nót tạc bằng một nét vẽ mộc mạc, dung dị và chan chứa tình ruột thịt đến thế.
Ngó xuống bắp chân trần của bậc quân vương, thấy bùn đất bám chặt lấy da thịt, y hệt cái thứ bùn vẫn đóng tảng trên gấu quần người nông phu lầm lụi. Khoảng cách lồng lộng giữa ngai vàng và ruộng thấp chừng như bị xóa nhòa bởi những giọt mồ hôi cùng thi nhau rỏ xuống một luống cày.
Quyền trị vì từ thuở ấy không nương tựa vào gươm mác dọa nạt để bắt người ta cúi đầu. Nó bén rễ vào sự gắn kết máu mủ, vào cái gật đầu tin tưởng, bao dung của những con người hằng ngày cùng san sẻ chung nhau một bát cơm gạo mới.
Mồ hôi trên sới vật và mạch phù sa thao thiết chảy
Tiếng chiêng thúc từng nhịp dồn dập tạt qua bãi đất trống. Dưới bóng râm chân Đền Hạ, vòng người xúm xít quanh sới vật thỉnh thoảng lại vỗ tay rào rào.
Hai gã trai làng lưng trần lấm lem bụi đất, mồ hôi ướt đẫm bết lại, đang ghì lấy nhau trong một thế khóa sít sao trên chiếu vật. Một cú lật tài tình, cát bụi bay xộc lên mũi.
Trò đấu vật ấy, ngẫm ra đâu chỉ là để xem ai khỏe hơn ai trong mấy ngày hội. Nó giống như một nếp quen, một bản năng ngấm ngầm từ cái thuở ông bà mình còn bươn chải vỡ đất lật cỏ. Rèn cái tay cho dẻo, cái chân cho vững để lỡ mưa sa bão táp ập tới, hay đêm hôm thú dữ rình mò, còn có sức mà che chắn cho đám trẻ nhỏ nương nép phía sau lưng.
Bắp tay gân guốc, gót chân trần tì chặt xuống mặt đất nện cứ như rễ cây si đang cố lách vào vách đá. Tiếng thở hắt ra nồng nàn hơi ấm của đất. Những trò chơi ngày hội như ném còn, bắn nỏ hay vật nhau thế này, thực ra là cách người quê mình tự rèn giũa nhịp thở và sự dẻo dai. Những đôi vai vạm vỡ ấy lúc nào cũng ngầm dặn nhau phải cứng cáp, phải chịu thương chịu khó để làm điểm tựa cho nếp nhà, xóm mạc lúc trái gió trở trời.
Mạch sống rần rật ấy không chỉ loanh quanh quẩn lại ở mấy vạt đồi cọ đồi chè xứ trung du. Nó ngấm vào bùn, nương theo dòng phù sa đỏ au của sông Hồng mà nhẩn nha trôi về xuôi.
Nhớ những bận tôi về lại quê nhà Hưng Yên, lững thững đứng giữa cánh đồng đang rập rờn ngậm sữa, hít một hơi no nê cái mùi hăng hăng của lá lúa non gội sương mai. Bưng bát cơm gạo mới trắng ngần lên và một miếng, nhai kỹ thấy vị ngòn ngọt tứa ra ở đầu lưỡi, tự dưng thấy bùi ngùi. Hóa ra, chút vị dẻo thơm mình đang ăn chứa cả những hạt phù sa lặn lội vạn dặm từ bến nước dưới chân Nghĩa Lĩnh trôi về.
Giọt thanh minh rỏ xuống tiếng chuông ngân
Đi dạo trong làn mưa bụi lất phất, tự dưng trong đầu tôi cứ luẩn quẩn một câu hỏi nhỏ: Sao cứ phải là tháng Ba nhỉ? Cái thời điểm giao mùa ẩm ương, khi rét nàng Bân còn đang dùng dằng chưa chịu nhường chỗ cho nắng hạ, sao người ta lại cứ nhớ mà bồn chồn tìm về?
Đứng lưng chừng dốc, nghe tiếng trống đồng nện từng nhịp trầm đục, rồi tự nhiên một tiếng chuông thỉnh từ chùa Thiên Quang buông lơi, trong veo lọt thỏm giữa màn sương. Hai thanh âm ấy chạm vào nhau như một lời thủ thỉ của đất trời về sự xoay vần, và về nếp nhà quê mình, lúc nào cũng quen mở rộng cửa trân trọng những điều khác biệt.



Chùa Thiên Quang nằm trong khu di tích lịch sử Đền Hùng, được xây kề bên đền Hạ, ở độ cao 80m - Ảnh Lương Đình Khoa - Tùng Vy
Bỏ qua cảm giác bùi ngùi thường thấy mỗi khi nhắc đến hai chữ "ngày giỗ", tháng Ba về mang theo hơi ẩm râm ran của tiết Thanh minh. Đất dưới chân có vẻ rục rịch. Bốc thử một nắm đất tơi xốp ngai ngái mùi lá mục, tưởng chừng như nghe được mấy hạt mầm vùi sâu bên dưới đang trở mình cựa quậy, mong ngóng một trận mưa rào.
Lễ hội trên non thiêng này, ngẫm ra giống như một lời rủ rỉ gọi mầm sống thức dậy. Người đi trước ngả lưng xuống, hóa thành bùn đất ủ ấm cho rễ cây, để rồi những vụ mùa mới cứ thế nhú mầm xanh ngắt, quẩn quanh theo đúng cái nhịp xuân sinh, hạ trưởng của tự nhiên.
Đợi vãn bớt người ở Đền Hạ, tôi rẽ qua khoảng sân gạch rêu phong của chùa Thiên Quang. Nghe nhịp trống đồng thong thả gõ nhịp cùng tiếng chuông chùa. Cái nếp tin, nếp nghĩ quê mình xưa nay vốn dĩ dung dị. Đạo ông bà Tổ tiên cứ hiền hòa dang tay, để cái tình từ bi của nhà Phật ghé vào rủ bóng mát. Chẳng ai nề hà nguồn gốc, cũng chẳng bận tâm rạch ròi ngôi thứ. Dân mình quen tính bao dung, thấy cái gì lành, cái gì thiện thì đem về đan cài vào nếp ăn nếp ở. Sự chắp nối ấy cứ thế tự nhiên bén rễ, hiền hậu mà bền chặt đến mức thành thói quen, thành nếp nghĩ từ đời nào chẳng hay.

Cổng trung tâm lễ hội Khu di lịch lịch sử đền Hùng lung linh về đêm trước ngày chính lễ Giỗ Tổ Hùng Vương 2025 - Ảnh Tùng Vy
Âm thanh êm ru ấy hình như chẳng chịu nằm lại dưới tán chò chỉ. Gió cứ đưa nó bay xa, luồn qua những triền đá tai mèo buốt giá trên mép đồi Lạng Sơn, Tuyên Quang.
Đêm tháng Ba sương muối lành lạnh, có cậu lính trẻ đứng gác ca đêm, mắt dõi về phía bên kia mây giăng, nhưng lòng dạ chắc đang bồn chồn thao thức nhớ về quê nhà mạn dưới. Và cũng cái dải âm thanh êm ái ấy, xuôi theo lạch nước từ nương lúa quê nhà, mải miết trôi ra tận mép sóng rì rào ngoài khơi xa. Lời ru "năm mươi người con xuống biển" bỗng ùa về lẩn trong ngọn gió mặn chát. Những gã trai làng vạm vỡ mồ hôi ướt đẫm trên sới vật tháng Ba ấy, hôm nay có thể đang là người lính lấm tấm mồ hôi đứng gác nơi mép đảo chìm, đảo nổi.
Đền Hùng với họ chẳng phải là một tượng đài xa vời, mà thu nhỏ lại thành một chấm nhớ thương, nặn thành niềm tin tĩnh lặng lặn sâu thẳm trong lồng ngực. Ở nơi biên ải sương giăng hay chốn sóng gió mịt mù ấy, việc ôm chắc cây súng hay dựa lưng vào gốc bàng vuông mà gác biển, bám lấy rạn san hô để giữ bình yên cho đất liền, ngẫm cho cùng cũng hiền lành và mộc mạc y như một nhịp chày đâm đuống. Tất cả lặng lẽ nối vòng tay lại, giữ cho khói nhang cội rễ lúc nào cũng ấm sực bay lên.
Bài viết: Lương Đình Khoa
Nguồn ảnh: TTXVN, Tùng Vy và tác giả
Báo: Thể thao và Văn hóa











