Mở đường cho công nghiệp văn hóa Việt Nam cất cánh (kỳ 2): Từ Hà Nội, TP.HCM nhìn ra những điểm nghẽn của công nghiệp văn hóa
Hà Nội và TP.HCM là 2 không gian tiêu biểu để nhìn thấy cả tiềm năng lẫn những điểm nghẽn của công nghiệp văn hóa Việt Nam. Hà Nội có chiều sâu di sản, vị thế "Thành phố sáng tạo" và những bước đi sớm về chính sách; TP.HCM có quy mô thị trường lớn, cộng đồng doanh nghiệp năng động, sức mạnh của điện ảnh, biểu diễn, quảng cáo, thời trang và kinh tế số.
Thực tiễn ở 2 đầu tàu cho thấy chúng ta không thiếu tài nguyên văn hóa hoặc sức sáng tạo; điều còn thiếu là 1 hệ sinh thái đủ đồng bộ để biến những nguồn lực ấy thành tài sản trí tuệ, sản phẩm, doanh nghiệp và thị trường.
2 đầu tàu, 2 lợi thế và cùng 1 bài toán thể chế
Tôi có một sự gắn bó đặc biệt với câu chuyện phát triển công nghiệp văn hóa của Hà Nội, không chỉ bởi đây là Thủ đô, mà còn bởi trong nhiều năm nghiên cứu, tôi đã chứng kiến sự thay đổi khá rõ của hệ sinh thái sáng tạo thành phố. Từ một giai đoạn mà công nghiệp văn hóa còn chủ yếu xuất hiện trong các hội thảo, những khái niệm như "thành phố sáng tạo", "không gian sáng tạo", "kinh tế đêm", "thiết kế sáng tạo" ngày càng bước vào chính sách và đời sống đô thị.

Những sân khấu văn hóa sáng đèn về đêm đang trở thành điểm đến hấp dẫn, mang lại trải nghiệm mới lạ cho du khách khám phá Hà Nội khi thành phố lên đèn. Ảnh: Tiến Long/TTXVN phát
Nghị quyết 09-NQ/TU của Thành ủy Hà Nội năm 2022 về phát triển công nghiệp văn hóa cho thấy Hà Nội là một trong những địa phương đi sớm trong việc xác định công nghiệp văn hóa là một ưu tiên của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, gắn với mục tiêu xây dựng Thành phố sáng tạo và nâng cao sức hấp dẫn của Thủ đô.
Điểm đáng quý của Hà Nội là nguồn nguyên liệu văn hóa rất phong phú. Một đô thị hơn nghìn năm tuổi không chỉ có Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, phố cổ hoặc hệ thống đình, đền, chùa, mà còn có cả một hệ sinh thái làng nghề, ẩm thực, nghệ thuật trình diễn, mỹ thuật, thiết kế, kiến trúc, ký ức đô thị và những lớp văn hóa đời sống. Những chất liệu ấy hoàn toàn có thể trở thành nguyên liệu cho điện ảnh, thời trang, hoạt hình, trò chơi, thiết kế và du lịch trải nghiệm nếu được kết nối với công nghệ, doanh nghiệp và thị trường.
Việc Hà Nội tham gia Mạng lưới các Thành phố sáng tạo của UNESCO trong lĩnh vực Thiết kế từ năm 2019 càng làm rõ định hướng đó, nhưng danh hiệu tự nó không làm nên một thành phố sáng tạo; điều quyết định là liệu sáng tạo có trở thành một phần của quản trị đô thị, phát triển kinh tế và đời sống cộng đồng hay không.
Tôi cho rằng Hà Nội đang đứng trước một bài toán cao hơn so với giai đoạn đầu: từ tạo phong trào sáng tạo sang hình thành thị trường sáng tạo. Một nhà thiết kế trẻ, một nhóm nghệ sĩ độc lập, một startup game hoặc doanh nghiệp nội dung số phải có thể tìm thấy ở Hà Nội không gian làm việc phù hợp, nguồn vốn, dữ liệu, khách hàng và các chính sách đủ thuận lợi để phát triển. Việc thành phố xây dựng bộ chỉ tiêu thống kê riêng cho công nghiệp văn hóa vì vậy rất có ý nghĩa, bởi nếu không đo được quy mô, doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ và đóng góp của từng ngành, chúng ta khó biết chính sách nào thực sự hiệu quả.

Ngày 7/8, TP.HCM công bố sự kiện Hội chợ Du lịch quốc tế TP.HCM lần thứ 20 (ITE HCMC 2026), quy tụ hệ sinh thái du lịch toàn diện và đa dạng nhất từ trước đến nay. Ảnh: Mỹ Phương/ TTXVN
TP.HCM cho thấy một bức tranh khác, nhưng bổ sung rất rõ cho Hà Nội. Thành phố có thị trường tiêu dùng lớn, cộng đồng doanh nghiệp mạnh, lực lượng lao động trẻ, khả năng tiếp nhận mô hình kinh doanh mới và hệ sinh thái giải trí phát triển nhanh. Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, quảng cáo, thời trang, nhiếp ảnh, triển lãm và du lịch văn hóa đã hình thành những chuỗi kinh doanh khá rõ.
"Hà Nội và TP.HCM cho thấy một điều rất rõ: chúng ta không thiếu tiềm năng; điều thiếu là khả năng tổ chức tiềm năng ấy thành sức sản xuất mới" - PGS-TS Bùi Hoài Sơn.
Năm 2025, TP.HCM cũng theo bước Hà Nội khi tham gia Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO (trong lĩnh vực điện ảnh). Nếu Hà Nội nổi bật với chiều sâu di sản và thiết kế thì TP.HCM nổi bật với năng lực thị trường và sức mạnh của khu vực tư nhân. Nhưng chính tại một thị trường năng động như vậy, những điểm nghẽn lại hiện lên rõ hơn: một dự án sáng tạo có thể dễ dàng tìm khán giả nhưng rất khó tìm vốn giai đoạn đầu; doanh nghiệp sở hữu kịch bản, nhân vật, thương hiệu hoặc cộng đồng người dùng nhưng khó sử dụng những tài sản vô hình ấy để vay vốn; một đơn vị muốn tận dụng công trình cũ thành không gian sáng tạo có thể vướng hàng loạt quy định về tài sản công, đất đai, xây dựng và khai thác thương mại.
6 điểm nghẽn mà luật phải tháo gỡ
Nhìn từ 2 thành phố lớn, tôi cho rằng có thể nhận diện 6 điểm nghẽn lớn mà Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần hướng tới giải quyết.
Trước hết là thể chế còn phân mảnh. Công nghiệp văn hóa vận hành xuyên ngành nhưng cơ chế quản lý vẫn chia theo ngành, khiến một chủ thể sáng tạo nhiều khi phải đi qua quá nhiều cửa khác nhau, làm tăng chi phí tuân thủ và khiến nhiều mô hình kinh doanh mới rơi vào vùng chưa rõ pháp lý. Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát vì vậy là cần thiết, nhưng phải được thiết kế để thử nghiệm cái mới trong một giới hạn rõ ràng, chứ không trở thành vùng miễn trừ trách nhiệm.
Điểm nghẽn thứ hai là tài sản trí tuệ chưa thực sự trở thành tài sản kinh tế, trong khi đây lại là phần cốt lõi của nhiều doanh nghiệp sáng tạo. Một bộ phim có thể sinh ra nhân vật, âm nhạc, hàng lưu niệm và nhiều sản phẩm phái sinh; một trò chơi có thể tạo ra cả một cộng đồng và thương hiệu; một thiết kế có thể trở thành biểu tượng. Nhưng nếu những tài sản ấy chưa có cơ chế định giá đáng tin cậy, thiếu dữ liệu giao dịch và không thể được sử dụng hiệu quả trong tín dụng, doanh nghiệp sáng tạo vẫn phải dựa vào những tài sản vật chất mà họ thường không có.

Toàn cảnh giao lộ Tạ Hiện - Lương Ngọc Quyến, khu vực được mệnh danh là "ngã tư quốc tế" trong lòng Phố cổ Hà Nội. Đây là không gian phát triển các dịch vụ ẩm thực, giải trí và du lịch về đêm, thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế, góp phần thúc đẩy chuỗi giá trị kinh tế đêm của Thủ đô. Ảnh: Tiến Long/TTXVN phát
Đi liền với đó là điểm nghẽn thứ ba: chúng ta thiếu một hệ thống tài chính phù hợp với đặc thù rủi ro sáng tạo. Nghị quyết 28 mở đường cho những mô hình quỹ chấp nhận rủi ro là rất đáng chú ý, nhưng bài toán quan trọng là làm sao Nhà nước chia sẻ được những rủi ro mà thị trường chưa thể gánh vác mà không biến việc lựa chọn dự án thành quyết định hành chính hay cơ chế xin - cho.
Điểm nghẽn thứ tư là có hạ tầng nhưng chưa chắc có hệ sinh thái. Đây là điều đặc biệt cần lưu ý khi chúng ta nói nhiều đến tổ hợp, cụm hay khu công nghiệp sáng tạo. Một khu đất đẹp, một tòa nhà mới hay một tấm biển "trung tâm sáng tạo" không tự động tạo ra sáng tạo. Hệ sinh thái chỉ hình thành khi ở đó có người sáng tạo, doanh nghiệp, trường đại học, công nghệ, quỹ đầu tư, khách hàng và một đời sống văn hóa đủ hấp dẫn. Nếu ưu đãi đất đai không gắn với đầu ra, chính sách công nghiệp văn hóa rất dễ bị chuyển thành chính sách bất động sản.
Điểm nghẽn thứ năm là khả năng thương mại hóa và phân phối còn yếu. Việt Nam không thiếu tác phẩm hay, nghệ nhân giỏi, nhà thiết kế, đạo diễn hoặc lập trình viên tài năng, nhưng từ một ý tưởng tốt đến một sản phẩm có thị trường là khoảng cách rất lớn. Các khâu quản trị IP, marketing, licensing, phân phối quốc tế, thương mại điện tử và xây dựng thương hiệu vẫn là những mắt xích yếu. Đây cũng là lý do Chiến lược 2486 đặt yêu cầu hình thành hệ sinh thái liên kết giữa sáng tạo, sản xuất, kinh doanh, quảng bá, tiêu dùng và bảo hộ sở hữu trí tuệ.
Điểm nghẽn cuối cùng là dữ liệu. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu chuyển hóa di sản thành dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và nguồn lực sáng tạo, đồng thời xây dựng bộ chỉ số thống kê về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa. Không có dữ liệu, chúng ta sẽ không biết ngành nào thực sự phát triển, doanh nghiệp nào cần hỗ trợ, chính sách nào có tác động và nguồn lực đang được sử dụng hiệu quả đến đâu. Hà Nội và TP.HCM cho thấy một điều rất rõ: chúng ta không thiếu tiềm năng; điều thiếu là khả năng tổ chức tiềm năng ấy thành sức sản xuất mới.
***
Vì vậy, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không nên bắt đầu từ câu hỏi "Nhà nước quản lý thêm điều gì?", mà phải bắt đầu từ câu hỏi "Điểm nghẽn nào cần được tháo gỡ để sáng tạo có thể phát triển?". Khi câu hỏi ấy được đặt đúng, chúng ta sẽ thấy rõ hơn vai trò của Nhà nước: không phải làm thay thị trường, mà tạo hạ tầng, chuẩn mực, dữ liệu, cơ chế tài chính và môi trường cạnh tranh để những nguồn lực đang tồn tại trong xã hội có thể kết nối với nhau. Đó cũng là nền tảng để bước sang câu hỏi quan trọng nhất: thiết kế Luật thế nào để vừa mở đường cho sáng tạo, vừa tránh tạo thêm một vòng xin - cho mới.
