Phát triển vùng: Không phải phép cộng các kế hoạch địa phương
Nghị quyết số 27-NQ/TW mở ra cách tiếp cận mới khi coi liên kết, điều phối vùng thực chất là khâu đột phá để tạo động lực tăng trưởng.
Phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia
Sau hơn 3 năm triển khai các nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh tại 6 vùng kinh tế - xã hội, đã có những chuyển động tích cực. Cụ thể: nhận thức về vai trò của vùng được nâng lên; liên kết giữa các địa phương được tăng cường, nhiều tiềm năng và lợi thế từng bước được phát huy. Tuy nhiên, những hạn chế căn bản vẫn hiện hữu khi quy hoạch còn chồng lấn, thiếu đồng bộ và thiếu tính liên kết; kết cấu hạ tầng tiếp tục là điểm nghẽn. Các hành lang kinh tế, cụm liên kết ngành phát triển chậm. Một số đô thị lớn và cực tăng trưởng chưa phát huy đầy đủ vai trò hạt nhân, sức lan tỏa, trong khi liên kết vùng còn yếu và hiệu quả chưa cao.

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương quán triệt Chuyên đề “Những nội dung trọng tâm, cốt lõi Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới”. Ảnh: Phương Hoa
Những vấn đề trên cho thấy, điểm nghẽn của phát triển vùng không đơn thuần nằm ở việc từng địa phương thiếu kế hoạch hay thiếu khát vọng phát triển. Sâu hơn là cách tổ chức các địa phương trong một chỉnh thể kinh tế lớn hơn. Khi mỗi tỉnh, thành phố chủ yếu nhìn vào ranh giới hành chính, nguồn lực của địa phương và các chỉ tiêu riêng, liên kết rất dễ dừng ở sự phối hợp hành chính, còn quy hoạch vùng có nguy cơ trở thành tổng hợp của nhiều bản quy hoạch địa phương.
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 3/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, không phải phép cộng các kế hoạch địa phương. Phải chuyển từ không gian hành chính sang không gian phát triển đa tầng, đa cực, theo chức năng, lợi thế, chuỗi giá trị; kết nối đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, không gian số và các không gian phát triển mới. Mỗi địa phương phải rõ vai trò trong vùng, lợi thế cần tập trung, việc phải liên kết, hạ tầng có sức lan tỏa; không chạy theo cơ cấu giống nhau, nơi nào cũng muốn có cảng biển, sân bay, khu công nghệ cao, trung tâm tài chính... mà không căn cứ lợi thế, hiệu quả. Quy hoạch phải là công cụ tổ chức phát triển”.
Chỉ đạo trên mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Từ cách đặt vấn đề này, yêu cầu phát triển vùng được nâng lên thành câu chuyện tổ chức lại không gian phát triển của cả nền kinh tế, chứ không dừng ở việc tăng cường phối hợp giữa một số địa phương có vị trí liền kề.
Cũng tại hội nghị trên, trong phần quán triệt những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương chỉ rõ, phát triển vùng được xác định là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Mô hình phát triển cũng phải chuyển mạnh từ chủ yếu dựa vào nguồn lực sẵn có sang kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông và kích hoạt các nguồn lực; nội lực giữ vai trò cơ bản, chiến lược, lâu dài và quyết định, đồng thời kết hợp hiệu quả với ngoại lực.
Bên cạnh đó, nếu cách tiếp cận cũ đặt địa phương làm đơn vị tương đối độc lập để xây dựng mục tiêu, lựa chọn ngành và bố trí nguồn lực, Nghị quyết 27 đặt địa phương vào trong một cấu trúc lớn hơn. Vai trò, vị trí, chức năng, lợi thế, bản sắc và sứ mệnh phát triển của từng vùng phải được xác định trong tổng thể phát triển đất nước; giữa các vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, chuỗi đô thị và trung tâm kinh tế phải hình thành được quan hệ liên kết, bổ trợ và lan tỏa. Tư duy cục bộ, đầu tư dàn trải hay sự trùng lặp về mô hình phát triển vì thế trở thành những vấn đề phải được xử lý ngay từ khâu tổ chức không gian.
Xây dựng cơ chế liên kết, điều phối vùng thật sự mạnh
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt yêu cầu rất cụ thể đối với công trình liên vùng: “Với công trình liên vùng, phải chấm dứt tình trạng địa phương nào biết địa phương đó; cùng bàn, cùng quyết định, cùng góp nguồn lực, cùng chịu trách nhiệm, cùng hưởng lợi”.
Yêu cầu trên cần được hiểu là thay đổi cả phương thức tư duy lẫn phương thức hành động. Địa giới hành chính vẫn là cơ sở quản lý nhà nước, nhưng không thể trở thành rào cản ngăn dòng vốn, hàng hóa, lao động, công nghệ, dữ liệu và các chuỗi giá trị kinh tế.
Ở khía cạnh khác, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị cho biết, một trong ba quan điểm xuyên suốt của Nghị quyết 27 là xây dựng cơ chế liên kết, điều phối vùng thật sự mạnh, thực chất và hiệu quả, coi đây là khâu đột phá. Cơ chế đó phải bảo đảm đồng bộ, liên thông giữa quy hoạch, đầu tư, phát triển hạ tầng, dữ liệu và phân bổ nguồn lực, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, địa phương cũng như hài hòa lợi ích giữa địa phương, vùng và quốc gia.
Liên kết vùng sẽ khó tạo ra giá trị nếu chỉ dừng lại ở ký kết hợp tác, trao đổi thông tin hoặc thống nhất về chủ trương, trong khi nguồn vốn vẫn chia theo từng địa phương, trách nhiệm không có đầu mối rõ ràng và lợi ích phát sinh từ một dự án liên vùng chưa được phân chia thỏa đáng. Cơ chế mới phải đi sâu vào những vấn đề khó hơn: ai quyết định, ai góp nguồn lực, ai chịu trách nhiệm, lợi ích được chia sẻ ra sao.

Đầu tư đường sắt, năng lượng, đô thị, cảng biển hay hạ tầng số cũng được đặt trong yêu cầu thúc đẩy phát triển công nghiệp nội địa, các ngành chế biến, chế tạo, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, logistics, thương mại điện tử và những lĩnh vực giá trị gia tăng cao. Ảnh minh họa: Du Ca
Nghị quyết đồng thời xác định những công trình liên ngành, liên vùng có ý nghĩa chiến lược quốc gia phải có cơ chế điều phối thống nhất và một đầu mối chịu trách nhiệm; tạo điều kiện để các cực tăng trưởng, đô thị động lực tham gia điều phối phát triển vùng trong một số lĩnh vực, đồng thời hình thành cơ chế chia sẻ nguồn lực và lợi ích giữa quốc gia, vùng và địa phương theo nguyên tắc cùng phát triển.
Đây có thể xem là bước chuyển quan trọng từ liên kết theo mong muốn sang liên kết gắn với trách nhiệm và nguồn lực. Khi đầu mối chịu trách nhiệm được xác định, nguồn lực được cam kết và lợi ích được tính toán trên tổng thể vùng, những dự án vượt qua ranh giới một tỉnh mới có điều kiện được lựa chọn và triển khai theo hiệu quả kinh tế - xã hội thực sự.
Đổi mới động lực tăng trưởng
Nghị quyết 27 cũng cho thấy một điểm đổi mới đáng chú ý khác: phát triển vùng không đồng nghĩa chia đều nguồn lực giữa các địa phương.
Mục tiêu tổng quát được xác định là tái cấu trúc, quản lý và khai thác hiệu quả không gian phát triển vùng đồng bộ với không gian phát triển quốc gia. Phát huy lợi thế cạnh tranh và bản sắc của từng vùng, từng địa phương, đồng thời nâng vai trò dẫn dắt, lan tỏa của các vùng động lực, hành lang kinh tế và cực tăng trưởng. Đến năm 2030, tầm nhìn 2045, Nghị quyết đưa ra 22 chỉ tiêu cụ thể cho từng vùng phù hợp với tiềm năng, lợi thế so sánh và thực tiễn phát triển.
Điều đó cho thấy sự khác biệt trong chức năng phát triển giữa các vùng được thừa nhận và tổ chức thành lợi thế chung, thay vì đặt tất cả vào một khuôn mẫu. Địa phương có lợi thế công nghiệp phải tạo được năng lực sản xuất đủ lớn. Địa bàn có điều kiện trở thành trung tâm logistics phải kết nối được thị trường cho cả vùng. Các đô thị động lực phải tạo ra sức lan tỏa chứ không chỉ gia tăng quy mô cho chính mình.
Hai cực tăng trưởng lớn nhất là vùng đô thị Hà Nội và vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh được ưu tiên phát triển; mục tiêu đến năm 2045 xây dựng ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực, quốc tế.
Cùng với đó, động lực tăng trưởng của từng vùng phải được đổi mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu và trục xuyên suốt; kết hợp chuyển đổi số với chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đầu tư đường sắt, năng lượng, đô thị, cảng biển hay hạ tầng số cũng được đặt trong yêu cầu thúc đẩy phát triển công nghiệp nội địa, các ngành chế biến, chế tạo, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, logistics, thương mại điện tử và những lĩnh vực giá trị gia tăng cao.
Ở góc độ tổ chức tăng trưởng, điểm đột phá vì vậy không chỉ nằm ở việc vẽ lại các hành lang kinh tế hay xác định thêm những cực tăng trưởng. Quan trọng hơn, cần hình thành được quan hệ kinh tế thật sự giữa cực tăng trưởng với khu vực chung quanh; giữa hạ tầng với sản xuất; giữa trung tâm công nghiệp với logistics; giữa đô thị với thị trường lao động; giữa đầu tư công với nguồn vốn xã hội.
Nghị quyết đã thiết kế khá toàn diện khi đặt ra 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp từ tổ chức không gian, hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển hạ tầng, đô thị và cực tăng trưởng đến nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ, văn hóa - xã hội, môi trường, quốc phòng - an ninh, đối ngoại và xây dựng hệ thống chính trị. Điều còn lại là năng lực tổ chức thực hiện bởi tư duy phát triển vùng chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi cách thức phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện và cơ chế chịu trách nhiệm cùng được đổi mới. Quy hoạch có thể đã xác định rõ các cực tăng trưởng, nhưng nếu ngân sách vẫn phân bổ nặng theo địa giới, nguồn lực tiếp tục dàn trải, các dự án liên vùng chưa có đầu mối đủ thẩm quyền và Hội đồng điều phối vùng chưa gắn được quyết định với nguồn lực, trách nhiệm cụ thể, thì khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn sẽ khó được thu hẹp.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: “Phát triển vùng phải gắn kinh tế với văn hóa, xã hội, an sinh, môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu, quốc phòng, an ninh; nâng cao tính tự chủ, sức chống chịu của từng vùng và cả nền kinh tế”.
