Sản xuất rau an toàn gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm
Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường về nông sản sạch, ngành nông nghiệp các địa phương đang tích cực mở rộng diện tích sản xuất rau an toàn, tập trung. Giải pháp này không chỉ bảo đảm nguồn thực phẩm đạt chuẩn mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế trên cùng diện tích canh tác.

Sơ chế, đóng gói sản phẩm rau củ tại Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Văn Đức, xã Bát Tràng, thành phố Hà Nội. (Ảnh: TTXVN)
Nâng cao tỷ lệ rau đạt tiêu chuẩn an toàn
Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp Hương Ngải, xã Tây Phương, thành phố Hà Nội Nguyễn Đỗ Ban cho biết, hợp tác xã hiện canh tác 10ha rau củ đạt chuẩn VietGAP và 45ha theo hướng an toàn. Việc kiểm soát chặt vật tư đầu vào và tuân thủ thời gian cách ly giúp chất lượng nông sản luôn được bảo đảm.
Nhờ đó, phần lớn sản phẩm của đơn vị được tiêu thụ ổn định tại các siêu thị, bếp ăn tập thể với giá bán cao hơn 10-15% so với cách trồng truyền thống.
Hà Nội hiện có khoảng 33.000ha rau, năng suất 220 tạ/ha, sản lượng 745 nghìn tấn, đáp ứng 60-70% nhu cầu của thành phố.
Trong đó, rau VietGAP chiếm khoảng 429ha; rau được chứng nhận hữu cơ khoảng 149ha và diện tích đang chuyển đổi theo hướng hữu cơ khoảng 63 ha.
Phần lớn diện tích còn lại của thành phố được sản xuất theo hướng an toàn. Nhiều vùng chuyên canh rau của Hà Nội tạo được thương hiệu trên thị trường như: vùng rau Tráng Việt, Yên Nhân (xã Mê Linh); vùng rau Văn Đức (xã Bát Tràng); vùng rau Lĩnh Nam; vùng rau Nam Hồng, Bắc Hồng, Vân Nội, Tiên Dương, Nguyên Khê (xã Phúc Thịnh)…
Theo định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc quy hoạch các vùng trồng rau an toàn, có truy xuất nguồn gốc là giải pháp cốt lõi nhằm phát triển bền vững ngành hàng này.
Bộ đặt ra mục tiêu đến năm 2030, sản lượng rau cả nước đạt 23-24 triệu tấn; sản lượng rau phục vụ chế biến khoảng 1-1,3 triệu tấn. Trong đó, hơn 95% số mẫu rau được thanh tra, kiểm tra đạt tiêu chuẩn an toàn.
Tỷ lệ diện tích rau an toàn, tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc chiếm khoảng 30% tổng diện tích gieo trồng rau của cả nước.
Chi cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội (Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội) Lưu Thị Hằng cho biết, thành phố phấn đấu đến năm 2030, duy trì các vùng rau an toàn chuyên canh, tập trung với sản lượng đạt hơn 400.000 tấn/năm.
Đối với vùng sản xuất rau an toàn chuyên canh, tập trung, mục tiêu của thành phố là kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật dưới ngưỡng quy định cho 90% diện tích sản xuất.
Đối với các khu vực sản xuất rau không chuyên canh; diện tích nhỏ lẻ, manh mún, người dân sẽ được quản lý và hướng dẫn thực hiện theo quy trình sản xuất an toàn. Cùng với đó, ngành nông nghiệp kỳ vọng hơn 30% sản lượng rau an toàn tại các vùng sản xuất tập trung được truy xuất nguồn gốc.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, địa phương phấn đấu đến năm 2030, diện tích canh tác rau đạt 5.500ha (diện tích gieo trồng 35.000ha), sản lượng ước tính 880.000 tấn/năm.
Trong đó, diện tích rau an toàn, tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc đạt 60% tổng diện tích gieo trồng rau; 100% số mẫu rau sản xuất trên địa bàn được kiểm tra đạt tiêu chuẩn an toàn.
Minh bạch sản phẩm, đẩy mạnh các chuỗi liên kết
Theo bà Lưu Thị Hằng, để hiện thực hóa các mục tiêu, thời gian qua ngành nông nghiệp thành phố Hà Nội thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn như: quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) cho nhà nông. Đồng thời, khâu minh bạch thông tin sản phẩm đang được thành phố đẩy mạnh bằng việc ứng dụng công nghệ hiện đại.
Các hợp tác xã đã phát huy tối đa sức mạnh cộng đồng thông qua việc thành lập các tổ giám sát chéo. Nhờ hoạt động kiểm tra này, các tổ giám sát cộng đồng kịp thời phát hiện và điều chỉnh những sai sót trong quá trình sản xuất.
Dù có nhiều nỗ lực, thực tế sản xuất rau an toàn tại các địa phương vẫn đối diện với không ít thách thức. Điển hình là hạ tầng giao thông, thủy lợi nội đồng, khu sơ chế, kho lạnh chưa được đầu tư đồng bộ; diện tích canh tác còn manh mún.
Việc chuyển giao khoa học kỹ thuật gặp rào cản do độ tuổi trung bình của người nông dân ngày càng cao.
Thêm vào đó, thói quen mua hàng tại các chợ cóc, chợ tạm của người tiêu dùng vẫn phổ biến, chỉ một lượng nhỏ rau sạch được bán qua kênh hợp tác xã, công ty.
Trước thực trạng nêu trên, ngành chức năng cần tiếp tục ưu tiên nguồn vốn đầu tư hoàn thiện hạ tầng tại các vùng quy hoạch sản xuất rau an toàn tập trung như: Hệ thống giao thông nội đồng, kênh mương tưới tiêu, nhà sơ chế, kho bảo quản lạnh.
Cần có cơ chế linh hoạt trong việc tích tụ ruộng đất, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, tạo ra các vùng nguyên liệu rau an toàn quy mô lớn.
Cùng với đó, tạo điều kiện cho các hợp tác xã, tổ hợp tác tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để tái đầu tư trang thiết bị, nhà màng, nhà lưới; đồng thời triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp đối với các vùng chuyên canh lớn nhằm giảm thiểu rủi ro cho người nông dân trước thiên tai, dịch bệnh.
Đẩy mạnh việc hình thành các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm rau giữa các doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân. Trong đó, tăng cường sự gắn kết theo chuỗi từ cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, tổ chức sản xuất, sơ chế, chế biến gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm…











