Thúc đẩy kinh tế số ở địa phương và doanh nghiệp nhỏ
Tỉ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số (KTS) trong nền kinh tế vẫn giữ đà tăng. Năm 2025, tỉ trọng này ước đạt 14,02%, do đó, cần có chính sách thúc đẩy để KTS phát triển mạnh, đặc biệt ở các địa phương và doanh nghiệp nhỏ.
KTS không chỉ là ứng dụng công nghệ vào sản xuất kinh doanh
Ông Bùi Trung Nghĩa - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) khẳng định, gắn liền với tiến trình chuyển đổi số quốc gia, những năm qua, KTS đã khẳng định vai trò là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế, góp phần định hình lực lượng sản xuất hiện đại, là nền tảng đưa Việt Nam phát triển bứt phá trong kỷ nguyên số.
Ông Nghĩa cũng cho biết, thực tế hoạt động của doanh nghiệp (DN) cho thấy, việc gắn kết các hoạt động số mang tính cốt lõi vào mô hình sản xuất kinh doanh có thể góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng lao động thông qua tối ưu hóa quy trình, cải thiện khả năng xử lý thông tin và khai thác tốt hơn các yếu tố công nghệ. Tuy nhiên, cộng đồng DN, trong đó khoảng 98% là DN nhỏ và vừa, dù đã nhận thức được sự cần thiết của ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn, trong đó có khả năng tiếp cận tín dụng.
Đáng chú ý, ông Nghĩa cho rằng, thách thức trung tâm đối với phát triển KTS của Việt Nam không nằm ở tốc độ tăng trưởng mà nằm ở khả năng chuyển hóa tăng trưởng đó thành giá trị gia tăng, năng suất và năng lực cạnh tranh của DN. Theo ông Nghĩa, KTS không chỉ là ứng dụng công nghệ vào hoạt động sản xuất kinh doanh mà là một hệ sinh thái mới dựa trên dữ liệu, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo và tốc độ đổi mới sáng tạo.
Trong KTS, tài sản của DN không chỉ được định giá bằng nhà xưởng, thiết bị mà nằm trong dữ liệu, mã nguồn, thuật toán và khách hàng. “Trước những đặc thù đó, bên cạnh việc hoàn thiện chính sách, điều quan trọng hơn là thay đổi tư duy chính sách theo hướng linh hoạt và thực tiễn hơn” - ông Bùi Trung Nghĩa nhấn mạnh.
Ông Nguyễn Quang Đồng - Viện trưởng Viện Chính sách và Phát triển truyền thông cũng cho rằng, Việt Nam nên hướng tới phát triển dữ liệu trở thành một thị trường để có thể khai thác được. Từ đó, ông Đồng kiến nghị, đối với thị trường dữ liệu Việt Nam, trong ngắn hạn nên ưu tiên những loại dữ liệu đã hình thành được đặc tính hàng hóa, tức là bên cung có dữ liệu đầy đủ, phục vụ được đa ngành. Như vậy, chúng ta sẽ có một lộ trình từng bước để thúc đẩy biến dữ liệu từ tất cả các lĩnh vực trở thành một thị trường có người bán, có người mua, có sàn giao dịch và phát huy được cao nhất các giá trị dữ liệu mà chúng ta đang có.
Giải “bài toán” KTS ở địa phương
Ông Nguyễn Huy Công - Viện trưởng Viện Phát triển Công nghệ tiên tiến (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho rằng, muốn giải “bài toán” KTS ở các địa phương thì cần đưa ra các giải pháp số. Ví dụ, địa phương cung cấp “đặt hàng” thực tế (nông sản, du lịch, logistics, quản lý đô thị), Trung tâm đổi mới sáng tạo (ĐMST) địa phương kết nối công nghệ số (AI Local, Blockchain truy xuất, IoT nông nghiệp) để tạo ra các mô hình kinh doanh số mới.
Bên cạnh đó, chuyển đổi số DN vừa và nhỏ theo hướng ĐMST địa phương giúp bình dân hóa công nghệ số, đưa giải pháp công nghệ giá rẻ, dễ sử dụng tới các hộ kinh doanh và DN nhỏ và vừa, giúp họ tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ngoài ra, cần tạo dựng kinh tế dữ liệu địa phương thông qua các nền tảng số dùng chung như sàn giao dịch nông sản số, bản đồ số tài nguyên và Trung tâm ĐMST địa phương giúp hình thành nguồn dữ liệu sạch - nguyên liệu đầu vào quan trọng nhất cho nền KTS.
Đáng chú ý, ông Công cho rằng, cần kiên quyết chuyển đổi các Trung tâm ĐMST từ mô hình sự nghiệp công lập thụ động sang mô hình tự chủ, vận hành theo cơ chế thị trường; cho phép và khuyến khích các trung tâm thành lập các pháp nhân thương mại hóa (Công ty Cổ phần Công nghệ) để đứng ra ký kết hợp đồng, thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ cốt lõi và thu hút vốn đầu tư tư nhân.
Ông Công cũng khuyến nghị, thay vì đầu tư nhà xưởng, phòng thí nghiệm sạch đắt đỏ, các địa phương cần ưu tiên tiếp nhận các chuyển giao công nghệ thông minh từ quốc tế. Ví dụ như ứng dụng mô hình đào tạo bán dẫn Maskless Lithography (giảm 90% chi phí hạ tầng), hoặc sử dụng các nền tảng điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo dùng chung (AI Local). “Mô hình này giúp các địa phương nghèo vẫn có thể đi tắt đón đầu trong đào tạo nhân lực số và công nghệ cao” - ông Công nói.
Đồng thời, ông Công đề xuất các địa phương nghiên cứu xây dựng “Trung tâm thí điểm công nghệ” tại các khu công nghệ cao hoặc khu kinh tế trọng điểm. Đây sẽ là nơi kiểm chứng tính khả thi về kỹ thuật và thương mại của các sản phẩm khoa học, công nghệ trước khi đưa vào sản xuất đại trà tại địa phương.
Thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế số, khoa học - công nghệ để tạo động lực tăng trưởng mới
Ngày 15/8, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương (tổ chức thực hiện đề tài) phối hợp cùng Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA), Viện Kinh tế và Dịch vụ Nhân sinh tổ chức Hội thảo khoa học “Thực trạng thực hiện mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao”.
Tại Hội thảo, các ý kiến nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển, đi trước một bước để mở đường cho các mô hình kinh tế mới; đổi mới mô hình tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng lực tài chính quốc gia và khơi thông hiệu quả các nguồn lực phát triển.
Nhiều tham luận đề xuất thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế số, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để tạo động lực tăng trưởng mới, hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030.
Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/thuc-day-kinh-te-so-o-dia-phuong-va-doanh-nghiep-nho.html

