Tín chỉ các-bon rừng: Mỏ vàng hay phép thử lớn?
Đến nay, Việt Nam đã thu về khoảng 1.388 tỷ đồng từ chuyển nhượng các-bon rừng với 78.000 hộ gia đình được thụ hưởng, hơn nửa là đồng bào dân tộc thiểu số. Việt Nam đã hình thành nền tảng pháp lý đầy đủ, tiếp tục chuyển nhượng đàm phán với các bên, hướng tới hình thành thị trường minh bạch, bền vững, theo ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Tiền Phong có cuộc trao đổi với ông Phạm Hồng Lượng về nội dung này.
Nền tảng pháp lý đầy đủ
Thưa ông, đến nay, khung pháp lý và các cơ chế chính sách hiện nay đã tạo điều kiện như thế nào cho việc hình thành, quản lý và giao dịch tín chỉ các-bon rừng?
Ông Phạm Hồng Lượng: Năm 2026 là năm bản lề của thị trường các-bon rừng ở nước ta. Trước đây, chúng ta mới giao dịch kết quả giảm phát thải từ rừng theo hình thức thí điểm, qua thỏa thuận riêng với Quỹ đối tác các-bon trong Lâm nghiệp của Ngân hàng Thế giới. Đến nay, hành lang pháp lý về cơ bản đã đủ, từ luật, các nghị định chung về thị trường các-bon cho tới nghị định chuyên ngành và văn bản hướng dẫn kỹ thuật.

Ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm.
Với ngành lâm nghiệp, văn bản quan trọng nhất là Nghị định 180/2026/NĐ-CP ngày 21/5/2026 quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng, có hiệu lực từ ngày 15/7/2026. Theo tôi, Nghị định giải quyết được năm vấn đề mà thị trường cần.
Thứ nhất, là quyền sở hữu các-bon, vì không rõ ai sở hữu thì không thể mua bán. Chủ rừng sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon từ dự án do mình trực tiếp thực hiện.
Với rừng thuộc sở hữu toàn dân, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và chủ rừng là đại diện chủ sở hữu đối với dự án do mình triển khai. Chủ rừng cũng được hợp tác, liên kết với tổ chức, cá nhân để xây dựng dự án, đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) và chia sẻ kết quả.
Thứ hai, vòng đời dự án đã có quy trình thống nhất, từ đăng ký, đo đạc, thẩm định, cấp tín chỉ đến xác nhận tín chỉ được cung ứng. Ngày 22/6/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã công bố 7 thủ tục hành chính, trong đó 4 thủ tục ở cấp Trung ương và 3 thủ tục ở cấp tỉnh.
Thứ ba là chuyện giữ uy tín cho tín chỉ, hay nói theo thuật ngữ quốc tế là tính toàn vẹn môi trường. Giao dịch chỉ được thực hiện qua hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch các-bon. Tín chỉ đã chuyển nhượng thì không được bán tiếp cho bên khác. Quy định này nhằm chặn tình trạng bán trùng (double selling) và tính trùng (double counting).
Thứ tư là giá. Mức chi trả tính bằng Đồng Việt Nam trên mỗi tấn CO₂ hoặc mỗi tín chỉ và giá chuyển nhượng lần đầu không được thấp hơn mức chi trả theo quy định. Thông tư 31/2026/TT-BNNMT hướng dẫn cách xác định mức chi trả dựa trên chi phí tạo ra tín chỉ, có đối chiếu với các dự án tham chiếu tương đồng, để tín chỉ không bị bán dưới giá trị thực.
Thứ năm là phân chia lợi ích. Nguồn thu được ưu tiên quay lại cho bảo vệ, phát triển rừng, sinh kế cộng đồng, xây dựng dự án, MRV và cơ sở dữ liệu lâm nghiệp.
Việc chuyển giao ra nước ngoài phải tuân thủ Nghị định 112/2026/NĐ-CP: với nhóm hoạt động lâm nghiệp, nếu có điều chỉnh tương ứng (corresponding adjustment) thì chỉ được chuyển giao tối đa 50% lượng tín chỉ được cấp. Phần còn lại giữ để thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) hoặc giao dịch trong nước.
Nói tóm lại, tín chỉ các-bon rừng giờ đã có địa chỉ pháp lý: ai là chủ, tạo ra theo tiêu chuẩn nào, bán ở đâu, giá tính thế nào, tiền dùng vào việc gì. Đó cũng là những câu hỏi đầu tiên mà nhà đầu tư nghiêm túc và bên mua quốc tế đặt ra trước khi bỏ vốn dài hạn.
Dự kiến chuyển nhượng thêm 5,15 triệu tấn CO₂
Cục đánh giá như thế nào về kết quả triển khai các chương trình, dự án các-bon rừng, đặc biệt trong việc tạo nguồn thu và nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng? Đâu là cơ hội và khó khăn, thách thức lớn nhất hiện nay?
Ông Phạm Hồng Lượng: Các-bon rừng đã bắt đầu đem lại tiền thật, dù quy mô còn khiêm tốn. Đến năm 2025, Việt Nam đã chuyển nhượng tổng cộng 11,3 triệu tấn CO₂, gồm 10,3 triệu tấn theo ERPA (Thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ) và 1 triệu tấn mua bổ sung, nhận về 56,5 triệu USD, tương đương khoảng 1.388 tỷ đồng.
Điều tôi thấy quý nhất là tiền đã đến tay người giữ rừng. Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam đã điều phối số tiền từ nguồn ERPA cho 5 tỉnh vùng Bắc Trung Bộ. Hơn 78.000 hộ gia đình, cá nhân, 1.204 cộng đồng dân cư, 445 Ủy ban nhân dân xã và 140 chủ rừng là tổ chức được hưởng lợi; đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 64%.
Từ nguồn này, bà con đã làm 835 công trình dân sinh như đường thôn, nước sạch, đèn năng lượng mặt trời, giống cây con cho sản xuất.

Cánh rừng thuộc Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An.
Công tác bảo vệ rừng cũng chuyển biến. Có thêm kinh phí, các địa phương tăng cường tuần tra, khoán bảo vệ rừng và đưa công nghệ theo dõi rừng vào sử dụng. Năm 2024, Hà Tĩnh giảm 52,5% số vụ vi phạm và 62,5% diện tích rừng bị xâm hại so với năm trước; Quảng Bình giảm hơn 50% số vụ vi phạm.
Ở vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, trên cơ sở Ý định thư ký với Tổ chức Tăng cường tài chính lâm nghiệp (Emergent) tại COP26 năm 2021, Việt Nam dự kiến chuyển nhượng 5,15 triệu tấn CO₂ theo tiêu chuẩn ART-TREES, giá tối thiểu 10 USD/tấn, tức gấp đôi mức giá của ERPA Bắc Trung Bộ. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã lập Tổ đàm phán và đang khẩn trương hoàn tất thủ tục để ký Thỏa thuận.

Việc bảo vệ rừng đã góp phần phục hồi đa dạng sinh học cho các cánh rừng tại Việt Nam. Trong ảnh là quần thể Chà vá chân nâu sống tại Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An.
Về cơ hội, tôi thấy có bốn điểm. Một là thể chế đã có: doanh nghiệp, chủ rừng lần đầu biết rõ quy trình, thủ tục và nơi để làm dự án các-bon rừng trong nước.
Hai là nhu cầu đang hình thành cả trong và ngoài nước. Sàn giao dịch các-bon trong nước đã có cơ sở pháp lý để vận hành, doanh nghiệp được mua tín chỉ các-bon rừng để bù trừ phát thải và Chính phủ đã phê duyệt Hiệp định thực thi Điều 6 Thỏa thuận Paris với Singapore, mở thêm một kênh chuyển giao song phương.
Ba là uy tín: kết quả ERPA Bắc Trung Bộ cùng việc Ban Thư ký ART chấp nhận hồ sơ của Việt Nam là lợi thế lớn, khi bên mua quốc tế ngày càng chuộng tín chỉ chất lượng cao ở quy mô vùng (jurisdictional).
Bốn là nền tảng tài nguyên rừng: Chính phủ vừa điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021 - 2030, đặt mục tiêu giữ tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc ổn định ở mức 42%; ta còn có rừng ngập mặn và rừng tự nhiên giàu đa dạng sinh học.
Khó khăn thì cũng không ít. Khó nhất vẫn là dữ liệu và năng lực MRV. Tín chỉ chỉ được cấp khi chứng minh được lượng giảm phát thải hoặc hấp thụ bổ sung bằng phương pháp được công nhận, có kiểm chứng độc lập. Trong khi đó, cơ sở dữ liệu chủ rừng ở nhiều nơi chưa đồng bộ, lại thay đổi thường xuyên; năng lực thẩm định trong nước còn mỏng, phần lớn vẫn phải dựa vào tổ chức quốc tế.
Chi phí cũng là một rào cản. Xây dựng dự án, đo đạc, thẩm định, đăng ký đều tốn kém, mà rừng trồng của hộ gia đình lại nhỏ lẻ, phân tán, nếu không liên kết thì khó đủ quy mô để có lãi.
Chúng ta còn phải cân đối giữa nhu cầu huy động tài chính quốc tế với nghĩa vụ thực hiện NDC, giữa mong muốn bán tín chỉ của từng địa phương với yêu cầu không tính trùng giữa chương trình quy mô vùng và dự án riêng lẻ. Rồi rủi ro tính lâu bền (permanence): cháy rừng, mất rừng, suy thoái rừng đều có thể xóa đi kết quả nhiều năm, nên phải có cơ chế dự phòng và giữ rừng bền bỉ.
Cuối cùng là nhận thức. Không ít nơi vẫn coi các-bon rừng là "mỏ vàng", thậm chí đã có những đề xuất, cam kết mua bán tín chỉ không đúng thẩm quyền. Tôi muốn nói rõ: các-bon rừng là nguồn tài chính bổ sung, không thay được đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng.

Cánh rừng nguyên sinh tại Vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng, nơi vừa phát hiện hố sụt khổng lồ.
Xây dựng thị trường trên cơ sở minh bạch, trung thực và chất lượng
Trong thời gian tới, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm sẽ ưu tiên những nhiệm vụ, giải pháp nào? Cục có định hướng gì để thu hút doanh nghiệp, nhà đầu tư, đối tác quốc tế và nâng cao năng lực cho chủ rừng, địa phương?
Quan điểm của chúng tôi là làm chất lượng tín chỉ trước, quy mô thị trường sẽ theo sau. Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm tập trung vào năm việc:
Thứ nhất: Đưa Nghị định 180/2026/NĐ-CP vào cuộc sống: hướng dẫn, đôn đốc các địa phương tham mưu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành kế hoạch thực hiện; giải quyết thủ tục hành chính đúng hạn, công khai; hoàn thiện và áp dụng tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ các-bon rừng; nghiên cứu đưa những cơ chế đã được kiểm nghiệm vào Luật Lâm nghiệp thay thế đang được xây dựng.
Thứ hai: Làm chắc nền dữ liệu và MRV: gắn kết quả điều tra, kiểm kê rừng với việc xác định mức tham chiếu và lượng hấp thụ các-bon từng giai đoạn; cập nhật cơ sở dữ liệu rừng đến từng lô, từng chủ rừng; dùng viễn thám, trí tuệ nhân tạo (AI) để theo dõi diễn biến rừng; kết nối với Hệ thống đăng ký quốc gia để tín chỉ nào cũng được ghi nhận, truy xuất được; từng bước nâng năng lực thẩm định trong nước.
Thứ ba: Hoàn thành các thỏa thuận quốc tế đang làm: phối hợp ký ERPA vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; thúc đẩy phát hành tín chỉ theo tiêu chuẩn ART-TREES, mục tiêu là ký được Thỏa thuận, tiếp nhận nguồn tiền và sau đó là chia sẻ lợi ích công khai, đúng đối tượng như đã làm ở Bắc Trung Bộ.
Thứ tư: Thí điểm rồi nhân rộng các loại dự án hợp với từng vùng: giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng (REDD+) cho rừng tự nhiên; trồng rừng, tái trồng rừng (ARR) và kéo dài chu kỳ rừng trồng gỗ lớn (IFM) cho rừng sản xuất; phục hồi rừng ngập mặn ven biển; nông lâm kết hợp ở trung du, miền núi.
Thứ năm: Tăng cường kiểm tra, giám sát và thông tin đầy đủ để kịp thời chấn chỉnh các giao dịch, cam kết không đúng thẩm quyền, bảo vệ quyền lợi chủ rừng và uy tín của tín chỉ các-bon rừng Việt Nam.

Các cán bộ kiểm lâm tuần tra rừng tại Vườn quốc gia Cúc Phương.
Còn về định hướng để thu hút doanh nghiệp, nhà đầu tư, đối tác quốc tế và nâng cao năng lực cho chủ rừng, địa phương, chúng tôi có quan điểm như sau:
Với doanh nghiệp, nhà đầu tư và đối tác quốc tế, điều họ cần nhất là sự minh bạch và tính dự đoán được. Vì vậy, chúng tôi công khai quy trình, hồ sơ, thời hạn giải quyết, có một đầu mối hướng dẫn thống nhất, còn mức chi trả thì xác định theo phương pháp đã quy định tại Thông tư 31/2026/TT-BNNMT.
Chúng tôi khuyến khích mô hình doanh nghiệp bỏ vốn, công nghệ, chi phí xây dựng dự án và MRV; chủ rừng góp rừng và công bảo vệ; kết quả chia theo hợp đồng đúng quy định.
Ở đầu ra, Cục sẽ hỗ trợ đưa tín chỉ đủ điều kiện lên sàn giao dịch trong nước cho doanh nghiệp có nhu cầu bù trừ, đồng thời tận dụng các hiệp định Điều 6 song phương và các tiêu chuẩn quốc tế uy tín để tiếp cận những bên mua yêu cầu chất lượng cao.
Chúng tôi ưu tiên đối tác cam kết lâu dài, gắn với lợi ích về đa dạng sinh học và sinh kế, chứ không phải các giao dịch ngắn hạn mang tính đầu cơ.
Với chủ rừng và địa phương, năng lực là chuyện quyết định thành bại. Các địa phương cần được hỗ trợ đánh giá hiện trạng và tiềm năng hấp thụ các-bon của rừng trên địa bàn trước khi nghĩ đến chuyện bán.
Các hộ gia đình nên liên kết qua cộng đồng, tổ hợp tác, hợp tác xã để đủ quy mô và giảm chi phí giao dịch. Cùng với đó phải bảo đảm các nguyên tắc an toàn xã hội - môi trường, tham vấn đầy đủ và có kênh tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, để người dân thực sự là người hưởng lợi.
Tôi muốn nói thêm một điều, giá trị của tín chỉ các-bon rừng không chỉ là số tiền thu về. Mỗi cánh rừng giữ được là một phần đóng góp thực sự cho mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 và cho cuộc sống của người dân sống gần rừng. Thị trường này chỉ đi đường dài được nếu được xây trên sự minh bạch, trung thực và chất lượng.
Xin cảm ơn ông!
Nguồn Tiền Phong: https://tienphong.vn/tin-chi-cac-bon-rung-mo-vang-hay-phep-thu-lon-post1889847.tpo
