Từ tài nguyên sinh thái đến tài sản carbon: Lối đi mở cho kinh tế xanh ở Huế
Với lợi thế vượt trội về tài nguyên rừng, nông nghiệp và hệ sinh thái đầm phá - ven biển, Thừa Thiên Huế đang từng bước xây dựng nền tảng vững chắc để chuyển hóa tiềm năng tín chỉ các-bon thành nguồn lực tài chính mới...
Khai mở “kho” các-bon từ rừng
Tín chỉ các-bon đang chuyển từ một khái niệm kỹ thuật về môi trường thành một loại tài sản có giá trị kinh tế trong quá trình chuyển đổi xanh. Với Huế, vấn đề không chỉ nằm ở việc tạo ra bao nhiêu tín chỉ, mà quan trọng hơn là xây dựng được cơ chế quản lý, đo đếm, thương mại hóa và chia sẻ lợi ích phù hợp.
Báo cáo số 243/BC-UBND ngày 21/5/2026 của UBND thành phố Huế xác định phát triển thị trường tín chỉ các-bon phải phù hợp với pháp luật và thực tiễn địa phương, hướng đến nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội.
Trên cơ sở đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường xây dựng dự thảo Đề án “Quản lý, sử dụng tín chỉ các-bon phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Huế giai đoạn 2026 - 2035”. Đây được xem là bước chuyển từ nhận diện tiềm năng sang xây dựng lộ trình tổ chức thực hiện.
Lợi thế đầu tiên của Huế nằm ở tài nguyên rừng. Đến cuối năm 2025, thành phố có hơn 305.673 ha đất có rừng, trong đó rừng tự nhiên hơn 205.201 ha, rừng trồng đã thành rừng hơn 77.097 ha; tỷ lệ che phủ đạt 57,15%.

Người dân đang ươm cây giống trồng rừng ngập mặn.
Với quy mô này, rừng không chỉ đóng vai trò “lá phổi xanh” mà còn có thể trở thành một “kho các-bon” tạo giá trị kinh tế nếu được quản lý bền vững, đo đếm minh bạch và đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường.
Đặc biệt, quá trình tham gia Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) đã giúp Huế tích lũy kinh nghiệm trong quản trị dòng tiền các-bon, chi trả dựa trên kết quả và chia sẻ lợi ích.
Thành phố đã tiếp nhận, phân bổ và giải ngân 129,71 tỷ đồng cho 628 đối tượng hưởng lợi, đạt 99,3% kế hoạch; 100% khoản chi trả được thực hiện không dùng tiền mặt. Hơn 70% đối tượng hưởng lợi là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa.
Kinh nghiệm này có ý nghĩa quan trọng khi Huế bước vào giai đoạn phát triển thị trường các-bon, bởi giá trị tạo ra từ rừng cần được phân bổ hợp lý, trong đó những người trực tiếp bảo vệ rừng phải là nhóm được hưởng lợi đáng kể.
Không chỉ có rừng
Dư địa phát triển tín chỉ các-bon của Huế còn nằm trong lĩnh vực nông nghiệp. Khoảng 53.000 ha lúa nước hằng năm vừa là nguồn phát thải khí mê-tan, vừa có khả năng giảm phát thải thông qua các giải pháp như tưới ngập - khô xen kẽ, quản lý rơm rạ, sử dụng phân bón hợp lý và áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến.
Nếu được tổ chức theo vùng sản xuất đủ lớn, có nhật ký điện tử, dữ liệu minh bạch và hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) phù hợp, sản xuất lúa phát thải thấp có thể tạo ra tín chỉ các-bon, đồng thời hình thành những sản phẩm nông nghiệp có giá trị gia tăng cao hơn.
Tiềm năng cũng được xác định ở các lĩnh vực chăn nuôi, xử lý chất thải, thủy sản, rong biển, cỏ biển, rừng ngập mặn và hệ sinh thái đầm phá - ven biển.
Báo cáo 243 định hướng phát triển các mô hình thủy sản sinh thái, tuần hoàn, kết hợp rong biển, cỏ biển và rừng ngập mặn nhằm tăng khả năng hấp thụ các-bon và phục hồi hệ sinh thái.
Đây có thể trở thành hướng phát triển “blue carbon” đặc trưng của Huế, gắn với hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai và vùng ven biển. Khi các giá trị hấp thụ các-bon được kết hợp với bảo tồn đa dạng sinh học, thủy sản sạch và du lịch sinh thái, hiệu quả kinh tế có thể không chỉ đến từ việc bán tín chỉ.
Hướng tới dòng nguồn lực mới
Điểm đáng chú ý trong Báo cáo số 243 là tiềm năng tín chỉ các-bon bước đầu đã được lượng hóa. Theo ước tính, tổng khả năng tạo tín chỉ trong giai đoạn đầu có thể đạt khoảng 503.221 - 632.121 tCO₂/năm, tương đương khoảng 25 - 30% tiềm năng kỹ thuật.
Với giả định giá tín chỉ khoảng 5 - 10 USD/tín chỉ, nguồn thu có thể đạt khoảng 65 - 164 tỷ đồng/năm.
Đây mới là kịch bản ban đầu, trong điều kiện năng lực MRV, khung pháp lý và khả năng tiếp cận thị trường còn hạn chế. Tuy nhiên, những con số này cho thấy tín chỉ các-bon có thể trở thành một nguồn lực kinh tế đáng kể nếu Huế chuẩn bị đầy đủ về dữ liệu, công nghệ, cơ chế quản lý và thị trường.
Dự thảo Đề án đã xây dựng chuỗi công việc tương đối rõ: đánh giá tiềm năng; xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống MRV; triển khai các dự án thí điểm; hoàn thiện cơ chế, chính sách; sau đó mở rộng quy mô và thương mại hóa tín chỉ.
Giai đoạn đầu dự kiến tập trung thí điểm trong lâm nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và môi trường. Giai đoạn 2029 - 2035 hướng tới hoàn thiện cơ chế tài chính, chia sẻ lợi ích và mở rộng dự án trên phạm vi toàn thành phố.
Để tín chỉ các-bon thực sự trở thành nguồn lực mới cho phát triển, Huế cần nhìn thị trường này rộng hơn việc tạo ra và bán tín chỉ.
Báo cáo 243 đã định hướng xây dựng cơ sở dữ liệu các-bon tích hợp trên toàn thành phố, bao gồm giao thông, xây dựng và các lĩnh vực phát thải khác. Đây là hướng đi cần được cụ thể hóa để từng bước hình thành hệ sinh thái kinh tế các-bon.
Huế có thể tiến tới kết nối các lĩnh vực giao thông xanh, công trình xanh, xử lý chất thải, năng lượng, công nghiệp, dịch vụ và du lịch trong một chiến lược giảm phát thải chung. Khi đó, mục tiêu không chỉ là tạo ra tín chỉ mà còn giảm “dấu chân các-bon” của toàn đô thị, góp phần xây dựng hình ảnh Huế là đô thị di sản, sinh thái và phát triển phát thải thấp.
Một vấn đề khác cần được quan tâm là lượng hóa mục tiêu. Đề án cần xác định rõ đến các mốc 2028, 2030 và 2035 có bao nhiêu tấn CO₂ được xác minh, bao nhiêu tín chỉ được phát hành, bao nhiêu dự án và doanh nghiệp tham gia, diện tích rừng, lúa và vùng nuôi được đưa vào hệ thống, doanh thu dự kiến cũng như tỷ lệ nguồn thu quay trở lại cộng đồng.
Những chỉ tiêu cụ thể sẽ giúp tín chỉ các-bon từ một khái niệm môi trường trở thành một cấu phần có thể quản trị của nền kinh tế.
Tạo vòng tuần hoàn tài chính xanh
Dự thảo Đề án dự kiến tổng kinh phí khoảng 220 tỷ đồng. Trong đó, 50 tỷ đồng dành cho hệ thống cơ sở dữ liệu, giám sát phát thải và tín chỉ; 55 tỷ đồng cho thí điểm trong lâm nghiệp; các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và môi trường mỗi lĩnh vực khoảng 20 tỷ đồng.
Nguồn lực này có thể xem là “vốn mồi” để hình thành thị trường. Tuy nhiên, bài toán quan trọng là phải làm rõ khoản đầu tư ban đầu sẽ tạo ra dòng tiền các-bon như thế nào, trong thời gian bao lâu và nguồn thu sau đó được tái đầu tư ra sao.
Đề án đã đề cập cơ chế quay vòng nguồn thu các-bon để tái đầu tư vào bảo vệ rừng, nông nghiệp giảm phát thải và sinh kế cộng đồng. Đây cần trở thành một nguyên tắc tài chính cốt lõi: đầu tư giảm phát thải - tạo tín chỉ - bán tín chỉ - chia sẻ lợi ích - tái đầu tư - tiếp tục tạo tín chỉ chất lượng cao.
Khi vòng tuần hoàn này hình thành, nguồn vốn ngân sách ban đầu có thể trở thành động lực tạo ra dòng tài chính dài hạn cho chuyển đổi xanh.
Đặc biệt, nguyên tắc chia sẻ lợi ích phải được đặt ở vị trí trung tâm. Báo cáo 243 từng đề xuất nhóm trực tiếp tạo tín chỉ được hưởng khoảng 75 - 80% nguồn thu. Tỷ lệ cụ thể có thể tiếp tục được nghiên cứu, nhưng tinh thần chung cần được bảo đảm: người dân, chủ rừng, nông dân và cộng đồng trực tiếp tạo ra kết quả giảm phát thải phải là những đối tượng hưởng lợi chính.
Nếu giá trị tín chỉ bị phân bổ quá lớn cho các khâu tư vấn, thẩm định, trung gian và quản lý, động lực tham gia của người dân sẽ khó duy trì lâu dài.
Ưu tiên tín chỉ chất lượng cao
Huế không nên chạy theo số lượng tín chỉ bằng mọi giá. Trong một thị trường ngày càng coi trọng tính minh bạch, khả năng kiểm chứng và các đồng lợi ích, chất lượng tín chỉ sẽ quyết định khả năng cạnh tranh.

Tăng cường tuần tra bảo vệ hệ sinh thái.
Một tín chỉ gắn với bảo vệ rừng tự nhiên, đa dạng sinh học, sinh kế cộng đồng và phục hồi hệ sinh thái có giá trị khác với một tín chỉ đơn thuần ghi nhận một tấn CO₂ giảm phát thải.
Đây chính là lợi thế của Huế. Rừng Trường Sơn, hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, vùng ven biển, đa dạng sinh học, cảnh quan và giá trị văn hóa có thể tạo nên những dự án các-bon mang bản sắc riêng.
Một khu rừng được bảo vệ tốt có thể đồng thời tạo tín chỉ, phát triển du lịch sinh thái và dịch vụ môi trường. Vùng lúa giảm phát thải có thể tạo tín chỉ cùng sản phẩm gạo xanh. Vùng nuôi sinh thái trên đầm phá có thể kết hợp các-bon xanh với thủy sản sạch và du lịch cộng đồng.
Đó là cách biến tài sản sinh thái thành tài sản kinh tế mà không đánh đổi những giá trị cốt lõi của tự nhiên.
Thị trường các-bon chắc chắn còn biến động về pháp lý, tiêu chuẩn, phương pháp đo đếm và giá cả. Vì vậy, tín chỉ các-bon không thể được xem như một “mỏ vàng” dễ dàng khai thác.
Tuy nhiên, với hơn 305.000 ha đất có rừng, tỷ lệ che phủ 57,15%, khoảng 53.000 ha lúa, hệ đầm phá - ven biển rộng lớn cùng kinh nghiệm bước đầu từ ERPA, Huế có những nền tảng quan trọng để chủ động chuẩn bị.
Khi rừng, ruộng lúa, đầm phá, chất thải, doanh nghiệp và các hoạt động đô thị được kết nối trong một hệ thống dữ liệu minh bạch, có MRV tin cậy, cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng và khả năng tiếp cận thị trường, tín chỉ các-bon sẽ không còn là câu chuyện xa vời của các hội nghị về biến đổi khí hậu.
Đó có thể trở thành một dòng nguồn lực mới, vừa góp phần bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao thu nhập cho người dân, thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi xanh, vừa tạo thêm lợi thế cạnh tranh cho Huế trên hành trình xây dựng đô thị di sản xanh và phát triển bền vững.

