Ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất, kinh doanh chè
Có diện tích và sản lượng chè lớn nhất cả nước, thời gian vừa qua người dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tích cực ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sản xuất, kinh doanh cho nên giá trị của cây chủ lực này không ngừng tăng lên.

Người dân xã Tân Cương (Thái Nguyên) thu hái chè vụ xuân.
Tỉnh Thái Nguyên hiện có hơn 24 nghìn ha chè, sản lượng mỗi năm khoảng 280 nghìn tấn, chiếm trên 18% diện tích và hơn 24% sản lượng chè búp tươi cả nước.
Năm 2025, ngành chè Thái Nguyên mang lại tổng doanh thu khoảng hơn 14 nghìn tỷ đồng. Ở xã Tân Cương, chè được chứng nhận chỉ dẫn địa lý, là cây trồng chủ lực, được mệnh danh là một trong “Tứ đại danh trà” của tỉnh Thái Nguyên bởi hương thơm, vị đậm, được người tiêu dùng ưa chuộng.
Vào dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ, không khí sản xuất, kinh doanh chè trở nên sôi động bởi nhu cầu thị trường và giá trị tăng, mang lại thu nhập cao cho người dân.
Là một trong những “vùng lõi” của chè Thái Nguyên, không chỉ có truyền thống sản xuất, kinh doanh chè, những năm gần đây các hợp tác xã, tổ hợp tác trên địa bàn xã Tân Cương đi đầu trong việc ứng dụng khoa học, kỹ thuật, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong hầu hết các khâu của ngành chè.
Trên cơ sở tổ hợp tác, năm 2016 Hợp tác xã Chè Hảo Đạt ở xóm Nam Đồng, xã Tân Cương được thành lập, hiện nay có hơn 11 ha chè và diện tích liên kết sản xuất hơn 30 ha của hơn 70 gia đình trên địa bàn.
Phó Giám đốc Hợp tác xã Chè Hảo Đạt Đào Văn Toàn chia sẻ: “Những năm gần đây, chúng tôi ứng dụng kỹ thuật, chuyển đổi số vào hầu hết quá trình từ trồng, chăm sóc, chế biến đến bán hàng”.
Với diện tích trồng thêm, Hợp tác xã Chè Hảo Đạt lựa chọn trồng giống chè lai F1, đây là giống chè khỏe, có thời gian khai thác lâu năm với năng suất, chất lượng cao; đồng thời lắp đặt dàn tưới thông minh kết nối wi-fi với điện thoại để điều khiển thời gian tưới, liều lượng, mức độ tưới phù hợp để cây chè sinh trưởng, phát triển tốt và tiết kiệm nước thay thế tưới thủ công.
Theo Phó Giám đốc Hợp tác xã Chè Hảo Đạt, kỹ sư Đào Văn Toàn, trong khâu chế biến, hợp tác xã sáng chế ống sao chè, vận hành các máy vò chè qua hệ thống điều khiển để nâng cao năng suất, quản lý chất lượng.
Nhờ ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, đến nay hợp tác xã có hai sản phẩm OCOP 5 sao quốc gia, doanh số bán chè năm 2025 đạt hơn 50 tỷ đồng, trong đó 30% được bán qua các sàn thương mại điện tử. Xã Tân Cương có 643 ha chè, trong đó diện tích kinh doanh là 615 ha bởi 68 hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh chè.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tân Cương Nguyễn Công Việt cho biết: “Với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, nỗ lực của các chủ thể trong việc ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong ngành chè, xã đã và đang triển khai hiệu quả các mô hình thâm canh chè hữu cơ, chè VietGAP, sử dụng máy móc chế biến, đóng gói cho nên năng suất, chất lượng chè được nâng cao, sản phẩm chè ngày càng đa dạng, giá trị sản xuất chè tăng lên 2,5 tỷ đồng/ha/năm, là cây chủ lực làm giàu cho người dân”.
Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới sáng tạo trong chăm sóc, chế biến, tiêu thụ đã đưa năng suất, chất lượng chè ở tỉnh Thái Nguyên ngày càng tăng với hơn 240 sản phẩm chè đạt tiêu chuẩn OCOP từ ba sao trở lên, trong đó có ba sản phẩm đạt tiêu chuẩn năm sao quốc gia.
Chỉ dẫn địa lý Chè Tân Cương được Liên minh châu Âu (EU) bảo hộ; nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” đã được bảo hộ tại sáu quốc gia và vùng lãnh thổ; 10 nhãn hiệu chè được Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng.
Đến nay, toàn tỉnh có hơn 60 mã số vùng trồng chè để quản lý quy trình chăm sóc, chế biến, truy xuất nguồn gốc qua quét mã QR, nhiều chủ thể sử dụng tích hợp công nghệ IoT, AI và GIS để giám sát sâu bệnh, dự báo năng suất, hỗ trợ người trồng chè điều chỉnh phương thức chăm sóc kịp thời.
Tỉnh đang triển khai đề tài “Nghiên cứu chuyển đổi số toàn diện và ứng dụng công nghệ cao trong quản lý, sản xuất chè bền vững” nhằm phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển ngành chè giai đoạn 2025-2030.
Đề tài tập trung xây dựng mô hình chuyển đổi số đồng bộ trong sản xuất chè, gồm hệ thống quản trị ERP, ứng dụng IoT, AI trong quản lý vùng nguyên liệu; truy xuất nguồn gốc theo tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế và tích hợp mô-đun tính toán phát thải khí nhà kính cho toàn bộ chuỗi cung ứng.
Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên Nguyễn Thị Loan, thực hiện Nghị quyết 11/NQ-TU của Tỉnh ủy và các cơ chế, chính sách hỗ trợ, Thái Nguyên đang tích cực đẩy mạnh ứng dụng khoa học, kỹ thuật, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm nâng cao năng suất, chất lượng để đạt mục tiêu ngành chè mang lại doanh thu khoảng 25 nghìn tỷ đồng vào năm 2030.











