Vĩ mô tích cực, chứng khoán có thêm động lực tăng tốc cuối năm

Bức tranh kinh tế Việt Nam 7 tháng năm 2026 tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi sản xuất công nghiệp tăng 11,4%, vốn FDI đăng ký tăng 58% và lạm phát tháng 7 giảm 0,12% so với tháng trước.

Bảng giá chứng khoán trực tuyến tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Trần Trung/Bnews/vnanet.vn

Bảng giá chứng khoán trực tuyến tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Trần Trung/Bnews/vnanet.vn

Theo Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), những diễn biến này đang tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng trong nửa cuối năm, dù sức cầu, giải ngân đầu tư công và áp lực nhập siêu vẫn là những biến số cần theo dõi.

Sản xuất tăng tốc, dòng vốn FDI tiếp tục chảy mạnh và lạm phát bắt đầu hạ nhiệt đang tạo thêm nền tảng cho kinh tế Việt Nam trong nửa cuối năm. Với thị trường chứng khoán, đây có thể là những mảnh ghép quan trọng để củng cố kỳ vọng về tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp.

Theo báo cáo cập nhật vĩ mô tháng 7/2026 của Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), bức tranh tăng trưởng của ngành sản xuất sau 7 tháng đầu năm tích cực hơn, trong bối cảnh áp lực lạm phát có dấu hiệu suy giảm. Giá dầu hạ nhiệt giúp doanh nghiệp phần nào tiết giảm chi phí, trong khi tốc độ tăng của cả chi phí đầu vào và giá bán đầu ra đã chậm lại, xuống mức thấp nhất kể từ tháng 9/2025.

Một trong những tín hiệu đáng chú ý nhất đối với nền kinh tế và thị trường chứng khoán là đà phục hồi của khu vực sản xuất.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 7/2026 tăng 1,2% so với tháng trước và tăng tới 14,5% so với cùng kỳ, tính chung 7 tháng, IIP tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất của 7 tháng trong nhiều năm qua.

Không chỉ sản lượng tăng, chỉ số PMI ngành sản xuất Việt Nam cũng lên 52,9 điểm trong tháng 7, cao hơn mức 51,8 điểm của tháng trước. Đáng chú ý, đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng mạnh nhất kể từ tháng 7/2024, cho thấy nhu cầu từ thị trường quốc tế đang có dấu hiệu cải thiện.

Đáng chú ý, một loạt ngành sản xuất ghi nhận tốc độ tăng trưởng hai chữ số trong tháng 7. Sản xuất kim loại tăng 29,4%, đồ uống tăng 20,3%, thuốc và dược liệu tăng 19,4%, chế biến gỗ tăng 16,4%, cao su và plastic tăng 14,2%, trong khi chế biến thực phẩm tăng 13%.

Với thị trường chứng khoán, diễn biến này có ý nghĩa đáng kể khi sản lượng và đơn hàng cải thiện thường tạo dư địa cho doanh thu, công suất và biên lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất trong những quý tiếp theo.

Ở chiều vĩ mô, CPI tháng 7/2026 giảm 0,12% so với tháng trước. Trong đó, nhóm giao thông giảm 2,02%, chủ yếu nhờ giá xăng trong nước giảm 4,35% và dầu diesel giảm 9,18%.

Đây là tín hiệu tích cực đối với môi trường kinh doanh, bởi chi phí đầu vào giảm có thể giúp doanh nghiệp cải thiện biên lợi nhuận. Tuy nhiên, áp lực lạm phát vẫn chưa biến mất.

Tính chung 7 tháng, CPI bình quân tăng 4,39% so với cùng kỳ, trong khi lạm phát cơ bản tăng 4,19%. Các nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng; hàng ăn và dịch vụ ăn uống; giao thông tiếp tục là những yếu tố chính kéo mặt bằng giá lên cao.

Theo VDSC, áp lực lạm phát trong nửa cuối năm vẫn hiện hữu khi Chính phủ đồng thời thúc đẩy đầu tư công, mở rộng tín dụng, điều chỉnh một số giá dịch vụ công và tiền lương cơ sở. Vì vậy, điều hành chính sách tiền tệ và bình ổn giá sẽ tiếp tục là biến số quan trọng đối với thị trường tài chính.

FDI tiếp tục hút vốn

Nếu sản xuất là động lực trực tiếp, FDI tiếp tục là điểm sáng nổi bật của bức tranh vĩ mô.

Tính đến ngày 31/7, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn đăng ký cấp mới đạt 21,05 tỷ USD, tăng 7,8% về số dự án nhưng quy mô vốn cao gấp 2,1 lần cùng kỳ.

Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu, thu hút 11,58 tỷ USD, chiếm 55% tổng vốn đăng ký cấp mới. Singapore dẫn đầu về vốn đăng ký mới với 7,5 tỷ USD, tiếp theo là Hàn Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc) và Trung Quốc.

Đáng chú ý hơn, vốn FDI thực hiện trong 7 tháng đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8% và là mức cao nhất của cùng kỳ trong 5 năm trở lại đây.

Theo VDSC, FDI tiếp tục là một trong những trụ cột hỗ trợ tăng trưởng trong nửa cuối năm, đặc biệt khi Việt Nam vẫn duy trì lợi thế từ chiến lược “Trung Quốc +1”.

Đối với nhà đầu tư chứng khoán, dòng vốn này không chỉ mang ý nghĩa về tăng trưởng GDP mà còn mở ra triển vọng cho các doanh nghiệp hưởng lợi từ mở rộng công suất, khu công nghiệp, logistics, xây dựng hạ tầng và chuỗi cung ứng.

Một động lực khác đang được giới đầu tư đặc biệt quan tâm là đầu tư công.

Đến hết ngày 31/7, cả nước đã giải ngân 425.312 tỷ đồng vốn đầu tư công, tương đương 41,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, tăng 3,6 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên, hơn một nửa kế hoạch vốn năm 2026 vẫn phải giải ngân trong 5 tháng cuối năm. Điều này vừa tạo áp lực lớn đối với mục tiêu giải ngân, vừa mở ra dư địa tăng tốc đáng kể cho nhóm doanh nghiệp xây dựng, vật liệu, hạ tầng và các lĩnh vực liên quan nếu các điểm nghẽn về mặt bằng, vật liệu và thủ tục được tháo gỡ.

VDSC đánh giá giải ngân đầu tư công mạnh cũng có thể hỗ trợ thanh khoản hệ thống ngân hàng, qua đó góp phần hạ nhiệt mặt bằng lãi suất, dù vẫn cần theo dõi tác động tới tỷ giá và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.

Chứng khoán chờ “mảnh ghép” cuối cùng

7 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1%, xuất khẩu tăng 21,7%, nhưng nhập khẩu tăng tới 34,8%, khiến Việt Nam nhập siêu.

Tuy nhiên, VDSC cho rằng cần nhìn sâu hơn vào cấu trúc nhập siêu, nếu loại trừ nhóm điện tử, máy tính và linh kiện, Việt Nam trong 7 tháng thực tế xuất siêu hơn 30 tỷ USD.

Nhập khẩu nhóm điện tử, máy tính và linh kiện tăng mạnh chủ yếu phục vụ nhu cầu sản xuất, dự trữ nguyên liệu và đáp ứng thị trường thế giới, thay vì phản ánh sức cầu tiêu dùng trong nước.

Đây là điểm đáng chú ý đối với thị trường chứng khoán: nhập khẩu tư liệu sản xuất tăng mạnh có thể được xem là tín hiệu cho thấy doanh nghiệp đang chuẩn bị năng lực sản xuất cho các đơn hàng trong tương lai.

Một biến số khác mà nhà đầu tư cần theo dõi là chính sách thuế quan của Mỹ, theo báo cáo, từ ngày 24/7, Mỹ áp mức thuế mới theo Section 301 từ 10% đến 12,5% đối với 60 đối tác thương mại, trong đó Việt Nam thuộc nhóm chịu mức 12,5%.

Dù vậy, VDSC cho rằng triển vọng xuất khẩu và thu hút FDI của Việt Nam vẫn tương đối tích cực nhờ nền tảng sản xuất, chính sách phản ứng kịp thời.

Đáng chú ý, nếu Việt Nam đáp ứng các yêu cầu liên quan đến cơ chế kiểm soát hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức, VDSC cho rằng mức thuế có khả năng được điều chỉnh về 10% trong ngắn hạn.

Nhìn tổng thể, các số liệu 7 tháng đang cho thấy nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đi đúng hướng ở nhiều mặt. IIP tăng 11,4%, xuất nhập khẩu tăng 28,1%, FDI đăng ký tăng 58%, FDI thực hiện đạt 15,2 tỷ USD, trong khi CPI bình quân tăng 4,39%.

VDSC đánh giá phần lớn các chỉ tiêu kinh tế Chính phủ đề ra đang đi đúng hướng và khả năng hoàn thành kế hoạch năm khá cao, ngoại trừ tiến độ đầu tư công vẫn cần cải thiện. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, các động lực như xuất khẩu, tiêu dùng và đầu tư sẽ cần tăng tốc mạnh hơn trong những tháng cuối năm.

Lạm phát hạ nhiệt tạo dư địa cho chính sách; sản xuất tăng tốc hỗ trợ lợi nhuận; FDI và đầu tư công mở rộng dư địa tăng trưởng; trong khi thuế quan và sức cầu vẫn là những biến số có thể tạo ra sự phân hóa.

Vì vậy, thay vì nhìn thị trường chỉ qua những biến động ngắn hạn của VN-Index, nhà đầu tư có thể cần quan tâm nhiều hơn tới nhóm doanh nghiệp thực sự hưởng lợi từ đầu tư công, sản xuất công nghiệp, FDI, xuất khẩu và chu kỳ hạ nhiệt chi phí.

Đây cũng có thể là nền tảng để thị trường bước vào giai đoạn phân hóa mạnh hơn, khi dòng tiền tìm kiếm những doanh nghiệp có tăng trưởng lợi nhuận đủ sức chuyển hóa các tín hiệu tích cực của kinh tế vĩ mô thành kết quả kinh doanh thực tế.

Trần Trung/Bnews/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/vi-mo-tich-cuc-chung-khoan-co-them-dong-luc-tang-toc-cuoi-nam/433922.html