Biến di sản thành tài sản: Hướng đi mới cho làng nghề

Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống đang được Phú Thọ xác định là giải pháp quan trọng nhằm gìn giữ bản sắc văn hóa vùng Đất Tổ, đồng thời tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn.

Thông qua các chính sách hỗ trợ sản xuất, xây dựng thương hiệu và gắn làng nghề với phát triển du lịch, địa phương từng bước biến giá trị di sản thành nguồn lực phát triển kinh tế bền vững.

Sản phẩm mỳ gạo Hùng Lô được tỉnh Phú Thọ chứng nhận là sản phẩm OCOP 5 sao.

Sản phẩm mỳ gạo Hùng Lô được tỉnh Phú Thọ chứng nhận là sản phẩm OCOP 5 sao.

Giữ lửa nghề truyền thống

Những ngày này, tại làng nghề làm mì gạo Hùng Lô, xã Vân Phú, tỉnh Phú Thọ, không khí sản xuất diễn ra nhộn nhịp. Từ sáng sớm, người dân đã tất bật với các công đoạn ngâm gạo, xay bột, tráng bánh, phơi và cắt sợi. Nghề làm mì gạo không chỉ mang lại nguồn thu nhập ổn định cho nhiều hộ dân mà còn góp phần gìn giữ nét văn hóa đặc trưng của vùng quê Đất Tổ.

Ông Cao Đăng Duy, Giám đốc Hợp tác xã mì gạo Hùng Lô cho biết, từ vài hộ thành viên ban đầu, đến nay hợp tác xã đã phát triển lên 255 thành viên. Trung bình mỗi tháng đưa ra thị trường khoảng 95 tấn mì gạo, doanh thu năm 2025 đạt 27,5 tỷ đồng.

Theo ông Duy, để giữ nghề truyền thống, sản phẩm phải khẳng định được vị thế trên thị trường. Vì vậy, hợp tác xã chú trọng kiểm soát chất lượng, xây dựng thương hiệu và mở rộng đầu ra cho sản phẩm. Nhờ đó, đơn vị tạo việc làm thường xuyên cho 35 lao động với thu nhập bình quân khoảng 7,5 triệu đồng/người/tháng, đồng thời liên kết hỗ trợ sản xuất cho nhiều hộ dân trong làng.

Những năm gần đây, hợp tác xã đẩy mạnh đầu tư công nghệ, áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng trong sản xuất, đa dạng các kênh bán hàng trên các sàn thương mại điện tử và xuất khẩu sang một số thị trường nước ngoài. Hiện, đơn vị có ba sản phẩm OCOP 4 sao và sản phẩm “Mì gạo sạch sinh ra từ làng Hùng Lô” được công nhận đạt OCOP 5 sao năm 2025.

Không chỉ ở Hùng Lô, nghề làm nón lá tại làng nghề Sai Nga, xã Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ cũng đang được người dân gìn giữ như một phần ký ức văn hóa của quê hương. Trong những ngôi nhà nhỏ ven đường làng, hình ảnh người phụ nữ thoăn thoắt với cây kim, xếp từng lớp lá đã trở thành nét đẹp bình dị của vùng đất này.

Phụ nữ Sai Nga, xã Cẩm Khê, giữ gìn nghề làm nón truyền thống.

Phụ nữ Sai Nga, xã Cẩm Khê, giữ gìn nghề làm nón truyền thống.

Làng nghề Sai Nga hiện có hơn 500 hộ dân tham gia làm nón lá. Trung bình mỗi ngày, một người thợ có thể làm được 2 chiếc nón kỹ hoặc từ 6 đến 7 chiếc nón thưa. Với giá bán dao động từ 30.000 - 50.000 đồng/chiếc đối với nón thưa và từ 120.000 - 150.000 đồng/chiếc đối với nón kỹ, nghề làm nón đã tạo nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều hộ gia đình.

Điều đáng mừng là sản phẩm làm ra đến đâu đều được thương lái thu mua đến đó, giúp người dân yên tâm sản xuất. Bình quân mỗi năm, cả làng xuất bán hơn 700.000 chiếc nón, mang lại doanh thu hàng chục tỷ đồng.

Bà Phạm Thị Tuyền, Trưởng làng nghề làm nón Sai Nga cho biết: Nghề làm nón không chỉ là kế sinh nhai mà còn là nét văn hóa gắn bó với nhiều thế hệ người dân địa phương. Điều những người làm nón ở Sai Nga trăn trở nhất là làm sao giữ được nghề cho thế hệ trẻ. Những năm gần đây, nhờ thị trường tiêu thụ ổn định và sự quan tâm hỗ trợ của các cấp chính quyền, người dân có thêm động lực gắn bó với nghề.

Dù đạt được nhiều kết quả tích cực, các làng nghề truyền thống vẫn đối mặt với không ít khó khăn. Nhiều nghề cần sự khéo léo, tỉ mỉ nhưng lực lượng lao động trẻ chưa thực sự mặn mà kế tục; trong khi quy mô sản xuất của nhiều hộ còn nhỏ lẻ, khả năng đầu tư đổi mới công nghệ và mở rộng thị trường còn hạn chế. Đây là những thách thức đặt ra trong quá trình bảo tồn và phát triển làng nghề theo hướng bền vững.

Biến di sản thành nguồn lực phát triển

Thực tế tại các làng nghề cho thấy, bảo tồn hiện nay không chỉ dừng lại ở việc gìn giữ nghề truyền thống mà cần gắn với nhu cầu thị trường, nâng cao giá trị sản phẩm và tạo sinh kế bền vững cho người dân.

Ông Nguyễn Hữu Chí, Chủ tịch UBND xã Cẩm Khê cho biết, địa phương thường xuyên tuyên truyền, vận động người dân đa dạng hóa sản phẩm nón lá; đồng thời đẩy mạnh quảng bá tại các điểm du lịch trong và ngoài tỉnh. Chính quyền cũng phối hợp với ngành Giáo dục tổ chức các hoạt động trải nghiệm nghề truyền thống cho học sinh nhằm góp phần lưu giữ và lan tỏa giá trị văn hóa của làng nghề.

Toàn tỉnh Phú Thọ có hơn 110 làng nghề, thu hút trên 30.000 hộ sản xuất với khoảng 43.000 lao động tham gia. Thu nhập của người lao động dao động từ 5-7 triệu đồng/người/tháng tại các làng nghề quy mô nhỏ và đạt hàng chục triệu đồng/tháng ở những cơ sở có thị trường ổn định, sản phẩm xuất khẩu.

Theo ông Nguyễn Thanh Hiệp, Phó Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ, địa phương đặt mục tiêu đến năm 2030, ngành nghề nông thôn đạt tốc độ tăng trưởng từ 6-7%/năm; thu nhập của người lao động tăng trên 2,5 lần so với năm 2020; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt từ 80% trở lên.

Sản xuất mì gạo tại Hợp tác xã mỳ gạo Hùng Lô, xã Vân Phú, tỉnh Phú Thọ. Ảnh: Nguyễn Thảo - TTXVN

Sản xuất mì gạo tại Hợp tác xã mỳ gạo Hùng Lô, xã Vân Phú, tỉnh Phú Thọ. Ảnh: Nguyễn Thảo - TTXVN

Để hiện thực hóa mục tiêu này, tỉnh tập trung vào ba nhóm giải pháp trọng tâm gồm đào tạo và thu hút lao động trẻ gắn bó với nghề; đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm; xây dựng thương hiệu, phát triển sản phẩm OCOP và đẩy mạnh xúc tiến thương mại.

Cùng với đó, nhiều sản phẩm làng nghề đã được gắn tem truy xuất nguồn gốc, tham gia các chương trình quảng bá, hội chợ thương mại, hệ thống siêu thị và sàn thương mại điện tử, từng bước mở rộng thị trường tiêu thụ.

Từ những sợi mì gạo ở Hùng Lô đến những chiếc nón lá Sai Nga, các làng nghề truyền thống của Phú Thọ đang cho thấy bảo tồn di sản không chỉ là gìn giữ những giá trị của quá khứ. Khi được hỗ trợ đúng hướng và gắn với nhu cầu thị trường, những giá trị văn hóa lâu đời hoàn toàn có thể trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế nông thôn bền vững.

Bài và ảnh: Nguyễn Thảo (TTXVN)

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/dia-phuong/bien-di-san-thanh-tai-san-huong-di-moi-cho-lang-nghe-20260623083403978.htm