Biến di sản văn hóa thành nguồn lực phát triển bền vững

Nam Bộ hiện có hơn 450 ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer. Không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của đồng bào Khmer, mỗi ngôi chùa còn là trung tâm lưu giữ chữ viết, kinh Phật, thư tịch cổ, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, hội họa cùng nhiều giá trị văn hóa truyền thống được bồi đắp qua hàng trăm năm lịch sử. Đây cũng là nơi giáo dục đạo đức, gìn giữ phong tục, tập quán, góp phần gắn kết cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Đoàn Nghệ thuật Rô băm ấp Bưng Chông, xã Tài Văn, thành phố Cần Thơ biểu diễn phục vụ Lễ hội Ok Om Bok. Ảnh: Mỹ Xuyên

Đoàn Nghệ thuật Rô băm ấp Bưng Chông, xã Tài Văn, thành phố Cần Thơ biểu diễn phục vụ Lễ hội Ok Om Bok. Ảnh: Mỹ Xuyên

Khơi dậy giá trị di sản trong quá trình phát triển

Cùng với hệ thống chùa Khmer, các lễ hội truyền thống như Chol Chnam Thmay, Sen Dolta, Ok Om Bok và Lễ hội đua ghe Ngo vẫn được duy trì hằng năm, trở thành không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng giàu bản sắc. Đây cũng là môi trường nuôi dưỡng và trao truyền nhiều loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc như sân khấu Dù kê, Rô băm, hát Aday, múa Rom vong (múa Lâm thôn), múa Chằn, múa Chhay dăm và nhạc Ngũ âm.

Những năm gần đây, nhiều địa phương đã chuyển dần sang khai thác giá trị di sản gắn với phát triển kinh tế, du lịch và công nghiệp văn hóa. Di sản không còn chỉ được gìn giữ trong không gian bảo tàng hay lễ hội mà từng bước trở thành sản phẩm văn hóa có khả năng tạo việc làm, tăng thu nhập và thúc đẩy phát triển địa phương.

Tại thành phố Cần Thơ, các tuyến du lịch kết nối chùa Dơi, chùa Chén Kiểu, Bảo tàng Văn hóa Khmer, làng nghề truyền thống cùng lễ hội Ok Om Bok – đua ghe Ngo đã trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Ở Vĩnh Long, tuyến du lịch “Không gian văn hóa Khmer” kết nối Ao Bà Om, chùa Âng, Bảo tàng Văn hóa dân tộc Khmer và các làng nghề truyền thống đã trở thành điểm nhấn của địa phương.

Đối với An Giang, lợi thế của vùng Bảy Núi được khai thác theo hướng kết hợp giữa du lịch sinh thái, du lịch tâm linh và trải nghiệm văn hóa cộng đồng. Các xã Tri Tôn, Ô Lâm, Gò Quao, Hòn Đất, Kiên Lương, phường Núi Cấm đã chú trọng bảo tồn nghệ thuật Dù kê, nhạc Ngũ âm, nghề dệt thổ cẩm và các lễ hội truyền thống, từng bước hình thành chuỗi sản phẩm văn hóa - du lịch mang bản sắc riêng.

Thực tiễn cho thấy, ở những nơi cộng đồng được trực tiếp tham gia tổ chức lễ hội, biểu diễn nghệ thuật, làm du lịch cộng đồng, sản xuất hàng lưu niệm và cung cấp dịch vụ thì di sản không chỉ được gìn giữ, mà còn tạo nguồn thu nhập ổn định, góp phần giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Những thách thức đặt ra

Quá trình đô thị hóa, hội nhập quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường và công nghệ số đang tạo ra những tác động không nhỏ đối với việc gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống. Một số nghề thủ công như dệt thổ cẩm, dệt chiếu, chế tác nhạc cụ dân tộc, điêu khắc gỗ, làm mặt nạ sân khấu đang đứng trước nguy cơ mai một do thiếu lực lượng kế cận. Việc truyền dạy chữ Khmer, nghệ thuật Dù kê, Rô băm và nhạc Ngũ âm ở nhiều địa phương vẫn thiếu giáo viên, kinh phí và điều kiện hoạt động.

Hiện tại, nghệ thuật sân khấu Dù kê đang bị mai một và đối mặt với nhiều nguy cơ mất dần trong chính cộng đồng người Khmer. Trong khi nguồn lực tại chỗ chưa mang lại hiệu quả cao, số nghệ nhân, nghệ sĩ người Khmer giỏi, tinh thông nghệ thuật hiện còn lại rất ít.

Ông Hữu Trung, Trưởng đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Cà Mau cho biết: “Khán giả xem sân khấu Dù kê ngày càng ít dần. Đã lâu, môn nghệ thuật này không biểu diễn nên chỉ thế hệ lớn tuổi mới nhớ và có tình yêu sâu sắc. Những người viết kịch bản, dựng tuồng, nắm vững âm điệu... trong từng vở Dù kê cũng không còn nhiều. Việc dựng một vở Dù kê cũng không dễ dàng, vừa mất công sức và mất nhiều thời gian. Hiện nay, Ðoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Cà Mau vẫn còn tập thời gian ngắn, rồi mang đi biểu diễn vào các dịp lễ hội, để khơi gợi sự yêu thích của khán giả mọi lứa tuổi đối với môn nghệ thuật này!”.

Ông Nguyễn Minh Tuấn, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Cần Thơ trăn trở, sau khi sáp nhập tỉnh và thực hiện mô hình chính quyền 2 cấp, nguồn lực đầu tư còn hạn chế, cán bộ văn hóa cấp cơ sở còn mỏng và yếu về chuyên môn. Sự phối hợp giữa các ngành khi sáp nhập chưa kịp thời bắt nhịp; việc tuyên truyền, vận động tranh thủ sự đồng thuận của đồng bào ở một số nơi gặp phải khó khăn khi sắp xếp lại bộ máy và nguồn kinh phí...

Hiện nay, nghệ thuật Dù kê đang bị mai một và đối mặt với nhiều nguy cơ mất dần trong cộng đồng người Khmer. Ảnh: Mỹ Xuyên

Hiện nay, nghệ thuật Dù kê đang bị mai một và đối mặt với nhiều nguy cơ mất dần trong cộng đồng người Khmer. Ảnh: Mỹ Xuyên

Hoàn thiện cơ chế để văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh

Trong bối cảnh kinh tế số phát triển nhanh, nếu thiếu cơ chế phù hợp, nhiều giá trị văn hóa quý báu sẽ khó tiếp cận thế hệ trẻ và giảm sức lan tỏa trong đời sống đương đại.

Theo Tiến sĩ Ngô Sô Phe, Hiệu trưởng Trường Ngôn ngữ Văn hóa Nghệ thuật Khmer Nam Bộ và Nhân văn (Đại học Trà Vinh), muốn bảo tồn hiệu quả, cần phát huy vai trò của các cơ sở giáo dục trong đào tạo nguồn nhân lực văn hóa, nghệ thuật; bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, nhà nghiên cứu và văn nghệ sĩ am hiểu ngôn ngữ, văn hóa Khmer. Đồng thời, cần đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, số hóa tư liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu về di sản văn hóa Khmer phục vụ công tác bảo tồn, giảng dạy và quảng bá.

“Bảo tồn văn hóa không nên chỉ dừng lại ở việc gìn giữ hiện vật hay phục dựng lễ hội mà phải được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế - xã hội. Khi cộng đồng được hưởng lợi từ chính di sản của mình thì việc bảo tồn mới thật sự bền vững. Khi đó, văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần, mà còn trở thành nguồn lực nội sinh phục vụ phát triển” - Tiến sĩ Ngô Sô Phe nói.

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Hoàng Hành, Phó Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền, Bộ Dân tộc và Tôn giáo cho rằng, yêu cầu đặt ra hiện nay là tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách theo hướng đồng bộ, liên ngành, phù hợp bối cảnh phát triển mới; chuyển mạnh từ tư duy “bảo tồn văn hóa” sang “quản trị phát triển dựa trên giá trị văn hóa”.

“Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua cơ chế, chính sách và đầu tư nguồn lực, còn cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, gìn giữ và lan tỏa các giá trị văn hóa. Đây cũng là quan điểm xuyên suốt của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy con người làm trung tâm của phát triển và coi văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển bền vững” - ông Hành chia sẻ.

Một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay là đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Không chỉ dừng ở việc số hóa hiện vật, thư tịch hay xây dựng thư viện điện tử, các địa phương cần phát triển bảo tàng số, tour tham quan thực tế ảo, nền tảng học chữ Khmer trực tuyến, cơ sở dữ liệu mở về nghệ thuật Dù kê, nhạc Ngũ âm, lễ hội truyền thống cùng hệ thống chùa Khmer. Đây sẽ là cầu nối giúp thế hệ trẻ tiếp cận di sản bằng phương thức hiện đại, đồng thời quảng bá văn hóa Khmer tới đông đảo công chúng trong và ngoài nước.

Mỹ Xuyên

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/bien-di-san-van-hoa-thanh-nguon-luc-phat-trien-ben-vung-post506418.html