Chuyện học xưa & nay: Vị Đình nguyên cuối cùng trong lịch sử khoa bảng Việt Nam

Đỗ đầu khoa thi Kỷ Mùi (1919) tại Huế - kỳ thi cuối cùng của triều Nguyễn, Nguyễn Phong Dy trở thành vị Đình nguyên Tiến sĩ cuối cùng, khép lại hành trình hơn 8 thế kỷ Nho học.

Khoa thi Kỷ Mùi (1919) là khoa thi cuối cùng của lịch sử khoa bảng phong kiến Việt Nam. Ảnh: ITN.

Khoa thi Kỷ Mùi (1919) là khoa thi cuối cùng của lịch sử khoa bảng phong kiến Việt Nam. Ảnh: ITN.

Năm Kỷ Mùi (1919), tại kinh đô Huế, triều Nguyễn tổ chức kỳ thi cuối cùng trong lịch sử. Sau khoa thi ấy, vua Khải Định chính thức tuyên bố bãi bỏ hệ thống thi cử Nho học đã tồn tại suốt hơn 8 thế kỷ kể từ khoa thi đầu tiên năm Ất Mão (1075)

Đứng đầu khoa thi đặc biệt ấy là một nhân vật mang dấu ấn lịch sử đặc biệt: Nguyễn Phong Dy - người được ghi nhận là Đình nguyên Tiến sĩ cuối cùng.

Trí thức hành động

Cuộc đời Tiến sĩ Nguyễn Phong Dy không chỉ gắn với danh hiệu đỗ đầu khoa thi cuối cùng, mà còn phản ánh sinh động diện mạo của lớp trí thức giao thời đầu thế kỷ 20, những người bước ra từ cửa Khổng sân Trình nhưng không đứng ngoài làn sóng canh tân và vận động cứu nước.

Theo các tư liệu lịch sử, Nguyễn Phong Dy tên thật Nguyễn Thái Bạt, sinh năm 1883 tại làng Nguyệt Viên, xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa (nay là phường Nguyệt Viên, tỉnh Thanh Hóa). Đây là vùng đất có truyền thống hiếu học lâu đời, nơi sản sinh nhiều bậc khoa bảng có đóng góp cho đất nước.

Nguyễn Phong Dy trưởng thành trong bối cảnh lịch sử đặc biệt. Sau Hiệp ước năm 1884, triều Nguyễn thừa nhận sự bảo hộ của thực dân Pháp. Bộ máy nhà nước phong kiến vẫn tồn tại, nhưng thực quyền nằm trong tay chính quyền bảo hộ. Hệ thống khoa cử Nho học duy trì như một biểu tượng truyền thống, song vai trò thực tế ngày càng thu hẹp trước sự phát triển của hệ thống giáo dục Pháp - Việt.

Thế hệ Nguyễn Phong Dy lớn lên trong sự giằng co, một bên là truyền thống Nho học hàng chục thế kỷ, một bên là ảnh hưởng mạnh mẽ của văn minh phương Tây và những tư tưởng cải cách, cách mạng đang lan rộng ở châu Á.

Năm 1904, khi phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng kêu gọi thanh niên sang Nhật Bản học tập để tìm đường cứu nước, Nguyễn Phong Dy đã gia nhập hàng ngũ ấy. Đây là quyết định táo bạo đối với một nho sinh, bởi đồng nghĩa với việc rời bỏ lối học cử nghiệp truyền thống.

Tại Nhật Bản, ông học tiếng Nhật, Hán văn, tiếp xúc với tư tưởng duy tân và tinh thần tự cường dân tộc. Nhật Bản sau cuộc Duy tân Minh Trị trở thành hình mẫu canh tân thành công của châu Á, khơi dậy niềm tin rằng một quốc gia phương Đông vẫn có thể hiện đại hóa mà không đánh mất bản sắc.

Sau thời gian ở Nhật, ông cùng Phan Bội Châu sang Trung Quốc hoạt động. Trong môi trường chính trị sôi động tại Thượng Hải và Bắc Kinh, ông lấy bí danh Lý Phục Hán, tham gia các hoạt động yêu nước, chịu ảnh hưởng của phong trào cách mạng do Tôn Trung Sơn khởi xướng. Một số tư liệu cho biết, ông từng có mặt trong Cách mạng Tân Hợi (1911) trong biến cố lật đổ triều đại Mãn Thanh, mở ra thời kỳ cộng hòa ở Trung Quốc.

Giai đoạn này cho thấy Nguyễn Phong Dy không chỉ là một nhà nho thuần túy, mà là một trí thức hành động, chủ động tìm kiếm con đường mới cho dân tộc trong bối cảnh lịch sử đầy biến động.

Chân dung Nguyễn Phong Dy thời kỳ Đông Du. Ảnh: ITN.

Chân dung Nguyễn Phong Dy thời kỳ Đông Du. Ảnh: ITN.

Khoa thi “Ngự tứ ân khoa”

Sau những thay đổi chính trị ở Trung Quốc và sự suy yếu của phong trào Đông Du, Nguyễn Phong Dy trở về nước. Ông lấy con gái của Bạch Chí Tuân - nhà thơ và là thủ lĩnh một cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương chống Pháp. Sinh sống tại quê nhà, ông tiếp tục học tập, sôi kinh nấu sử và trau dồi thêm tiếng Pháp để chờ thời cơ. Sự trở về ấy không phải là sự rút lui khỏi lý tưởng, mà là một sự thích ứng với hoàn cảnh.

Đầu thế kỷ 20, dù hệ thống giáo dục Pháp - Việt đã phát triển, khoa cử Nho học vẫn tồn tại như một cách để tuyển chọn quan lại của triều đình Huế. Đối với nhiều trí thức, thi cử không chỉ là con đường công danh mà còn là cách khẳng định học vấn và vị thế xã hội.

Theo sách “Khải Định chính yếu”, tháng Giêng năm 1919, sau khi Bộ Học đệ trình lên nhà vua về thể thức kỳ thi Hội với những thay đổi, vua Khải Định liền phê: “Lần này là khoa thi Hội cuối cùng của triều đình, nên trẫm muốn gia ân cho sinh viên sĩ tử khoa mục trong cả nước, hễ ai thông thạo hai thứ chữ Nho và chữ Pháp thì trình diện Bộ Học để xin vào ứng thí, lấy tên khoa này là Ngự tứ ân khoa”. Đồng thời, vua ra thánh dụ: “Trẫm nghĩ rằng quy chế cựu học đã không còn đáp ứng được điều mong muốn, trong khi con đường tương lai của tân học đang thênh thang mở rộng trước mặt”.

Sách “Quốc triều đăng khoa lục” của Cao Xuân Dục ghi lại rằng, trong các kỳ thi hội triều Nguyễn, không chỉ Cử nhân mà cả những người chưa có học vị, nếu được xét là thực tài, vẫn có thể được quan đầu tỉnh lập danh sách, tiến cử vào kinh ứng thí.

Ngoài ra, theo trình tấu của Bộ Học, vua còn đặc cách cho phép các tỉnh Trung Kỳ, mỗi tỉnh xét cử 3 người là Tú sĩ “có thực tài đồng thời tinh thông cả chữ Nho và chữ Pháp” mặc dù bản thân vua Khải Định cũng thừa nhận rằng: “Nay theo như lời trình xin trong tờ phiến thì tuy chưa hoàn toàn trúng với ý của trẫm, nhưng ý kiến bàn thêm đã nhất trí nên tạm chuẩn y cho”. Mục đích của việc này là “để cho những người hiền bị bỏ sót trong dân dã hiểu được ý trẫm”.

Khoa thi Hội năm 1919 có nhiều thay đổi quan trọng trong thể lệ. Ở vòng thứ nhất, ngoài các bài văn sách, kinh nghĩa, truyện và thời sự, thí sinh phải làm thêm một bài về sử Việt Nam và một bài về sử phương Tây (thay cho sử Trung Quốc như trước).

Đến vòng thứ ba, bên cạnh hai bài toán bắt buộc, thí sinh phải viết một bài luận bằng chữ quốc ngữ. Vòng thứ tư yêu cầu cao hơn, là dịch một bài quốc ngữ sang tiếng Pháp, dịch một bài tiếng Pháp sang Hán văn và làm một bài luận bằng tiếng Pháp.

Khoa thi Kỷ Mùi (1919), triều đình lấy đỗ 23 người, trong đó có 7 Tiến sĩ, 16 Phó bảng. Ảnh: ITN.

Khoa thi Kỷ Mùi (1919), triều đình lấy đỗ 23 người, trong đó có 7 Tiến sĩ, 16 Phó bảng. Ảnh: ITN.

Tháng 4 năm ấy, kỳ thi Hội diễn ra tại kinh đô Huế, chủ yếu có thí sinh Trung Kỳ dự thi. Sĩ tử Bắc Kỳ phần lớn đã rời bỏ trường thi, bởi khoa cử ở ngoài đó bị bãi bỏ sau khoa thi Hương năm 1915. Tạp chí Nam Phong số 17 (11/1918) cho biết, Cử nhân Bắc Kỳ vẫn được dự thi, song phủ Thống sứ Bắc Kỳ đã thông báo trước với Bộ Học rằng người nào đỗ Tiến sĩ hay Phó bảng “tuy còn giữ danh dự cũ, nhưng không đủ quyền vào quan trường như trước”.

Theo quy định, có 5 bài thi bị xếp hạng liệt và đáng lẽ bị loại. Tuy nhiên, vua Khải Định đã gia ân, cho lấy thêm 5 thí sinh này vào thi Đình. Ngày 16/5/1919 (17/4 âm lịch), kỳ thi Đình cuối cùng diễn ra trong hoàng cung. Đề thi do chính nhà vua ra, về các nội dung sau: Văn minh là gì? Quan hệ của văn minh đến chuyện hòa bình hay chiến tranh, hưng thịnh hay suy thoái, phân chia hay hội họp? Vấn đề khai thác và tận dụng lợi thế về tài nguyên.

Lối khoa trường cựu học đã bỏ, chuyển sang tân học thì phép tuyển dụng người đã tốt hay chưa? Quốc sự, quốc chính phải thay đổi do đó có nên lập ra Hiến pháp và Hiến pháp khi lập ra có thực hiện được không? Chính sách lập hiến và quyền pháp phải như thế nào? Làm gì để đền đáp sức dân, giúp dân an cư lạc nghiệp, giữ gìn văn minh tiến bộ?

Mục đích của đề bài là nhằm đưa ra phương sách tốt nhất cho triều đình áp dụng, vua Khải Định bày tỏ: “Trẫm vốn tài mỏng đức sơ, suy nghĩ khó được chu toàn. Các ngươi với tài kinh luân vốn có hãy thử trình bày rõ ràng kiến giải của mình, không a dua, quanh co, xuyên tạc khiến sai sót khi đem thực hành, cũng đừng quá khéo dùng lời lẽ bay bướm mà trống rỗng chẳng có được phương sách gì hay, để trẫm thu lượm rồi thử đem áp dụng”.

Là vị Đình nguyên Tiến sĩ cuối cùng, tên ông được khắc trên tấm bia đề danh Tiến sĩ cuối cùng của triều Nguyễn. Ảnh: ITN.

Là vị Đình nguyên Tiến sĩ cuối cùng, tên ông được khắc trên tấm bia đề danh Tiến sĩ cuối cùng của triều Nguyễn. Ảnh: ITN.

Vị Đình nguyên cuối cùng

Khác với lệ cũ, khoa thi Đình năm ấy không căn cứ vào điểm thi Hội để xếp hạng, mà dựa vào “văn lý” nhằm định thứ bậc Tiến sĩ tân khoa. Kết quả, triều đình ban đỗ 7 Tiến sĩ và 16 Phó bảng. Đỗ cao nhất là Nguyễn Phong Dy với học vị Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Là người đỗ đầu khoa thi nên Nguyễn Phong Dy trở thành Đình nguyên Tiến sĩ, cũng là vị Đình nguyên cuối cùng trong nền khoa bảng phong kiến Việt Nam.

Một tuần sau, ngày 24/5/1919, lễ truyền lô cuối cùng được tổ chức tại điện Cần Chánh. Nhà vua chủ tọa, song bên cạnh đã có sự hiện diện của khâm sứ Trung Kỳ cùng các quan chức Pháp.

Sau khoa thi ấy, vua Khải Định tuyên bố bãi bỏ hệ thống khoa cử cũ, khẳng định con đường thi cử Nho học từ đây chấm dứt. Một truyền thống kéo dài hơn tám thế kỷ chính thức khép lại.

Sau khi đỗ đạt, Nguyễn Phong Dy được bổ nhiệm làm Lục sự tại Tòa Khâm sai Trung Kỳ. Ông cũng tham gia công việc tại Ban Tu Thư và có thời gian giảng dạy ở Trường Hậu bổ tại Huế - nơi đào tạo quan lại theo mô hình mới kết hợp giữa truyền thống và yếu tố hiện đại.

Tuy nhiên, sự nghiệp quan trường của ông không kéo dài. Sức khỏe yếu khiến ông qua đời năm 1923 tại Huế, khi tuổi đời mới ngoài bốn mươi. “Một nén hương đưa người chí sĩ/ Trăm năm còn mãi tiếng Đình nguyên” là lời tổng kết cho số phận một con người, vừa là chí sĩ vừa là nhà khoa bảng, danh tiếng mãi lưu truyền. Cuộc đời ông khép lại lặng lẽ, không kịp chứng kiến những chuyển biến mạnh mẽ của phong trào cách mạng Việt Nam trong thập niên tiếp theo.

Theo giới nghiên cứu, giá trị lịch sử của Tiến sĩ Nguyễn Phong Dy không chỉ nằm ở danh hiệu Đình nguyên cuối cùng. Ông là hình ảnh tiêu biểu của lớp trí thức đứng giữa hai thời đại, một bên là truyền thống Nho học lâu đời, bên kia là trào lưu canh tân và cách mạng đang trỗi dậy.

Ông từng ra nước ngoài tìm đường cứu nước, tiếp xúc với tư tưởng duy tân và cách mạng châu Á. Ông cũng thi đỗ theo hệ thống khoa cử truyền thống, như một sự khẳng định giá trị học vấn cổ điển. Hai phương diện ấy không mâu thuẫn, mà bổ sung cho nhau trong con người ông.

Trong tiến trình chuyển đổi từ xã hội phong kiến sang xã hội hiện đại, những trí thức như Nguyễn Phong Dy đã góp phần tạo nên cầu nối giữa quá khứ và tương lai. Họ mang theo vốn học vấn Nho học, đồng thời tiếp thu tinh thần đổi mới của thời đại.

Hơn một thế kỷ đã trôi qua kể từ khoa thi Kỷ Mùi (1919), nhưng hình ảnh sĩ tử lều chõng vào kinh ứng thí đã trở thành ký ức lịch sử. Bảng vàng, bia đá ghi tên Tiến sĩ tiếp tục tồn tại như chứng tích của một thời đại. Trong dòng chảy ấy, Nguyễn Phong Dy hiện lên dù lặng lẽ nhưng đầy ý nghĩa. Ông không phải nhân vật chính của những biến cố chính trị, nhưng lại là nhân chứng đánh dấu thời điểm kết thúc của một hệ thống giáo dục kéo dài hơn 8 thế kỷ.

Từ quê học xứ Thanh đến kinh đô Huế, từ chí sĩ Đông Du đến Đình nguyên Tiến sĩ, cuộc đời Nguyễn Phong Dy là hành trình của một trí thức giao thời. Ông khép lại con đường khoa cử truyền thống, đồng thời mở ra những suy ngẫm về sự vận động không ngừng của lịch sử Việt Nam.

Khoa thi Đình năm 1919 lấy đỗ 7 vị Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, gồm: Nguyễn Phong Dy, đỗ năm 31 tuổi; Trịnh Hữu Thăng, đỗ năm 35 tuổi; Lê Văn Kỷ, đỗ năm 28 tuổi; Nguyễn Cao Tiêu, đỗ năm 33 tuổi; Bùi Hữu Hưu, đỗ năm 40 tuổi; Vũ Khắc Triển, đỗ năm 37 tuổi; Dương Thiệu Tường, đỗ năm 25 tuổi. Cả 7 vị đều trở thành những đại khoa cuối cùng được khắc tên trên bia Tiến sĩ. Tấm bia được hoàn thành ngay sau khi khoa thi kết thúc, vào ngày mồng 7 tháng 7 năm Khải Định thứ 4 (1919), và cũng là bia Tiến sĩ cuối cùng trong lịch sử khoa cử Việt Nam.

Trần Siêu

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/chuyen-hoc-xua-nay-vi-dinh-nguyen-cuoi-cung-trong-lich-su-khoa-bang-viet-nam-post771283.html