Đại biểu Quốc hội muốn ngân hàng cơ cấu lại thời hạn và giữ nguyên nhóm nợ
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh yêu cầu minh bạch tài chính, chứng minh năng lực trả nợ để tạo cơ sở cho ngân hàng cấp tín dụng, đồng thời cảnh báo tình trạng doanh nghiệp sử dụng hai hệ thống báo cáo tài chính khác nhau cho mục đích kê khai thuế và vay vốn...

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn giải trình trước Quốc hội. Ảnh: quochoi.vn
Tiếp tục phiên thảo luận về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026trong ngày 31/10, nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị giảm chi phí vay vốn, tháo gỡ khó khăn tín dụng cho doanh nghiệp, đồng thời cảnh báo nguy cơ tích tụ rủi ro khi nền kinh tế phụ thuộc lớn vào nguồn vốn ngân hàng.
Đại biểu Trịnh Xuân An, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đồng Nai, cho rằng để duy trì tốc độ tăng trưởng cao, nền kinh tế cần nguồn vốn đủ lớn, đặc biệt khi nhu cầu đầu tư hạ tầng và triển khai các dự án quy mô lớn ngày càng tăng.
Do đó, việc bảo đảm dòng vốn đến được với khu vực sản xuất, kinh doanh, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng mở rộng hoạt động của doanh nghiệp.

Đại biểu Trịnh Xuân An, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đồng Nai
“Giảm lãi suất cho vay thực tế cần trở thành một trong những ưu tiên trong điều hành. Điều này đòi hỏi phối hợp các biện pháp quản lý thanh khoản, hạ chi phí huy động và tiết giảm chi phí vận hành của ngân hàng. Các tổ chức tín dụng cũng cần công khai rõ mức lãi suất áp dụng sau thời gian ưu đãi cùng những khoản phí liên quan, qua đó giúp doanh nghiệp thực sự giảm gánh nặng vay vốn”
Bên cạnh điều chỉnh mặt bằng lãi suất, đại biểu Trịnh Xuân An đề xuất mở rộng các phương thức cấp tín dụng dựa trên dòng tiền, đơn hàng và mối liên kết trong chuỗi cung ứng, đồng thời cải thiện cơ chế bảo lãnh tín dụng cũng như nghiên cứu hỗ trợ lãi suất có mục tiêu, xác định rõ thời hạn và nguồn lực.
Với doanh nghiệp chỉ gặp khó khăn trong ngắn hạn nhưng vẫn có khả năng phục hồi, việc điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc xem xét khoanh nợ cần được thực hiện theo các điều kiện cụ thể và có cơ chế giám sát. Theo đại biểu Trịnh Xuân An, việc giảm lãi suất phải được thực hiện đồng thời với yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng, ổn định tỷ giá và kiểm soát lạm phát.
Cùng đề cập đến khó khăn của khu vực sản xuất, đại biểu Nguyễn Cao Sơn, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ, cho biết doanh nghiệp đang chịu sức ép đồng thời từ chi phí đầu vào, thị trường tiêu thụ và sức mua suy giảm. Tình trạng thiếu vốn khiến một số đơn vị gặp trở ngại trong việc triển khai các dự án đầu tư, mở rộng sản xuất.
Đại biểu đề nghị Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại kéo dài, mở rộng cơ chế cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ đến hết năm 2027 đối với doanh nghiệp gặp khó khăn do thị trường, sử dụng vốn đúng mục đích và có phương án phục hồi khả thi. Đồng thời, cần mở rộng quy mô, đối tượng thụ hưởng các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, người thuê, mua nhà ở xã hội.
Ở góc độ an toàn hệ thống, đại biểu Phạm Ngọc Lâm, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai, đặt vấn đề về tính bền vững của mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào tín dụng ngân hàng.
Theo đại biểu, trong các năm 2023, 2024 và 2025, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP trên hai lần; năm 2026, tỷ lệ này khoảng 1,5–1,7 lần. Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng trên GDP từ khoảng 120% đến 150% là thuộc nhóm cảnh báo rủi ro cao.
Đại biểu Phạm Ngọc Lâm cho biết theo tiêu chuẩn Basel II và Basel III, sử dụng chỉ số khoảng cách tín dụng so với xu hướng dài hạn thì ngưỡng nguy hiểm là 10%. Con số tính toán đều chỉ ra là xu hướng này của nước ta vài năm qua là tăng và năm 2026-2027 đang tiến dần gần đến ngưỡng 10%.
"Nếu tín dụng tiếp tục mở rộng trong khi năng suất, dòng tiền và khả năng trả nợ không tăng tương ứng, rủi ro có thể lan từ thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp sang hệ thống ngân hàng, làm gia tăng nguy cơ hình thành bong bóng tài sản và nợ xấu tiềm ẩn", đại biểu nhấn mạnh.
Từ đó, đại biểu đề nghị làm rõ kịch bản huy động vốn phục vụ tăng trưởng năm 2027, bao gồm mức tăng tín dụng dự kiến và khả năng huy động vốn thực chất từ thị trường cổ phiếu, trái phiếu cùng các kênh khác. Cùng với đó, cần tăng cường giám sát các chỉ báo rủi ro, xây dựng phương án ứng phó với biến động lãi suất, tỷ giá, bất động sản và nâng cao thực chất tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.
Giải trình trước Quốc hội, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấnkhẳng định định hướng điều hành chính sách tiền tệ vẫn là bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, kiểm soát tỷ giá và góp phần hỗ trợ tăng trưởng.
Tuy nhiên, theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, việc đánh giá mức độ an toàn của hệ thống cần tính đến đặc điểm riêng của thị trường Việt Nam, thay vì chỉ áp dụng máy móc các tỷ lệ hoặc công thức chung.
Cụ thể, tiền gửi ngắn hạn hiện chiếm khoảng 80% tổng tiền gửi của hệ thống ngân hàng. Dù kỳ hạn danh nghĩa ngắn, tiền gửi của người dân có xu hướng liên tục quay vòng, tạo nguồn vốn tương đối ổn định cho các tổ chức tín dụng.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 12,27%; lãi suất huy động tăng 1,42%, trong khi lãi suất cho vay tăng 0,99%, cho thấy chênh lệch giữa hai mức lãi suất đang thu hẹp. Tín dụng bất động sản tăng 9,84%. Trong tổng dư nợ hơn 20,879 triệu tỷ đồng, khoảng 77,4% được dành cho sản xuất, kinh doanh. Dư nợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt trên 4 triệu tỷ đồng.
Theo Thống đốc, khả năng huy động vốn ngắn hạn với chi phí thấp hơn góp phần hỗ trợ mặt bằng lãi suất cho vay. Việc người dân tiếp tục gửi tiền vào hệ thống ngân hàng cũng phản ánh mức độ tin tưởng đối với kênh đầu tư này. Tuy nhiên, khi thị trường vốn phát triển hơn, tạo thêm các kênh đầu tư an toàn và hấp dẫn, cơ cấu phân bổ nguồn tiền trong nền kinh tế có thể thay đổi.
Đối với tín dụng bất động sản, Thống đốc cho biết lĩnh vực này đang được kiểm soát nhằm bảo đảm tăng trưởng tín dụng đi kèm quản lý rủi ro. Ngân hàng Nhà nước cũng triển khai các giải pháp giảm lãi suất, cải thiện khả năng tiếp cận vốn và khuyến khích cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Về đề xuất giảm chi phí vốn và mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, Thống đốc Phạm Đức Ấn cho biết Ngân hàng Nhà nước đã làm việc với Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa để tìm giải pháp, trong đó có phương thức cho vay dựa trên dòng tiền thực tế của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, khả năng triển khai phương thức này còn phụ thuộc vào chất lượng thông tin tài chính của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô vốn hạn chế, kế hoạch kinh doanh thiếu ổn định và chưa cung cấp được thông tin tài chính đủ minh bạch.
“Không để có tình trạng doanh nghiệp sử dụng hai hệ thống báo cáo tài chính, một để kê khai, nộp thuế và một để vay vốn ngân hàng. Khi thông tin tài chính được phản ánh minh bạch, tổ chức tín dụng mới có cơ sở đánh giá đầy đủ sức khỏe doanh nghiệp, xác định mức độ rủi ro và xem xét cấp vốn phù hợp”, Thống đốc nêu rõ.
Theo ông Phạm Đức Ấn, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng mở rộng cho vay. Dù vậy, trách nhiệm chứng minh năng lực tài chính và khả năng trả nợ vẫn thuộc về doanh nghiệp; đồng thời, ngân hàng phải bảo đảm chất lượng tín dụng, khả năng thu hồi nợ và an toàn nguồn tiền gửi của người dân.
