'Đan áo' cho cồng chiêng

Có một nghề khá lạ ở xã biên giới Ia O mà chúng tôi hiếm thấy trong nhiều năm đi qua những vùng đất tại Gia Lai, đó là 'đan áo' cho cồng chiêng.

Công phu và cầu kỳ, mỗi chiếc áo dùng vận chuyển, bảo quản cồng chiêng không khác gì một tác phẩm đan lát được nghệ nhân dồn hết vào đó sự tài hoa. Và lạ lùng thay, những người giỏi nghề nhất đều tập trung ở làng Mít Jep.

 Ở tuổi 80, già Hyai vẫn say mê với nghề “đan áo” cho cồng chiêng và truyền dạy cho thế hệ trẻ. Ảnh: P.D

Ở tuổi 80, già Hyai vẫn say mê với nghề “đan áo” cho cồng chiêng và truyền dạy cho thế hệ trẻ. Ảnh: P.D

Là cư dân của nền văn minh làng rừng, đồng bào Tây Nguyên là những người rất giỏi trong việc biến vật liệu thiên nhiên như tre nứa, song mây… thành những vật dụng thiết thân hằng ngày. Từ bao đời nay, đan lát đã trở thành nghề truyền thống, là một trong những thước đo sự khéo léo của một người đàn ông.

Còn nhớ, trong tập sách Miền đất huyền ảo, Jacques Dournes - nhà dân tộc học người Pháp có nhiều năm gắn bó với Tây Nguyên, ghi chép lại một truyền thuyết khá lý thú của người Srê về nghề đan lát.

Theo truyền thuyết này, khởi nguyên, những cái gùi là “quả” của cây tre, chúng cứ thế mọc ra và con người chỉ việc hái lấy mà dùng. Tương tự, chiếu là “quả” của cây lát. Nhưng kể từ trận đại hồng thủy, mọi sự đã thay đổi. Gùi, thúng mủng, chiếu… không mọc ra như trái trên cây nữa, con người phải tự làm lấy tất cả.

Tuy nhiên, các vị thần vì thương hại nên đã giao cho các loài thực vật dạy cho con người cách làm. Có lẽ vì thế mà ở vùng biên giới Ia O hôm nay, nghề đan lát không chỉ là sinh kế, mà còn là cách đồng bào gìn giữ lời dạy của rừng, được trao truyền qua bao thế hệ.

"Mặc áo đẹp" cho chiêng

Biên giới mùa này quả điều chín đỏ trĩu cành. Hương điều ngọt lựng vấn vít trên đường vào làng Mít Jep (xã Ia O), quanh ngôi nhà thoáng mát của già Rơ Châm Hyai.

Xin thôi làm già làng do tuổi đã 80, già Hyai tập trung vào công việc mà mình yêu thích nhất là đan lát, trong đó có “đan áo” cho cồng chiêng và truyền dạy “tuyệt kỹ” này cho thế hệ sau.

Già Hyai học đan lát từ chính ông mình, cha mình để rồi nhiều mùa rẫy qua, từ đôi tay kia không biết bao nhiêu sản phẩm độc đáo đã thành hình, trong đó có cả những chiếc áo cho cồng chiêng hết sức tinh xảo mà chúng tôi chưa từng gặp ở đâu khác.

Có 2 loại áo: Loại thứ nhất được đan đơn giản với kỹ thuật cài nan hình lục giác tựa như những chiếc gùi thưa, thường để cất giữ những bộ chiêng bình thường. Loại thứ hai được đan hết sức cầu kỳ, vừa khớp một cách khéo léo với hình dáng chiếc chiêng có núm, dùng để cất giữ những loại chiêng quý như chiêng Pom, chiêng Pat…

 Mỗi “chiếc áo” được đan cầu kỳ để dễ bề vận chuyển, bảo quản chiêng. Ảnh: P.D

Mỗi “chiếc áo” được đan cầu kỳ để dễ bề vận chuyển, bảo quản chiêng. Ảnh: P.D

Già Hyai cho hay: Trong số này, chiêng Pat là quý nhất bởi hoàn toàn được đúc bằng đồng. Hiện già cũng đang sở hữu bộ chiêng Pat 11 chiếc được truyền từ đời ông bà.

Thử gõ lên chiếc “chiêng mẹ” (chiêng lớn nhất), tiếng chiêng rền vang, lan tỏa những vòng âm thanh khiến ta ngỡ như không khí cũng đang rung chuyển thành những lớp sóng lan ra bốn phía. Ta thật sự có cảm giác như va phải tiếng chiêng.

Già Hyai quý bộ chiêng này như báu vật nên ngày trước chẳng quản việc lên rừng tìm dây mây về "đan áo" cho chiêng. Phần việc trước tiên luôn bắt đầu từ chỗ khó nhất ở mặt trước, đó là phần nhô lên chỗ núm chiêng, phải tính toán sao cho vừa vặn, chuẩn xác.

Từ đây, những vòng tròn được đan rộng dần ra với hoa văn chỗ thưa, chỗ nhặt để sản phẩm vừa trông đẹp mắt, cồng chiêng vừa có khoảng thở. Mặt sau đan tương tự nhưng bằng phẳng; 2 mặt kết nối với nhau bằng một phần đế, bên trên để hở để đưa cồng chiêng vào. Cuối cùng là gắn 2 chiếc quai đeo như quai gùi để dễ dàng đeo trên vai khi vận chuyển.

Giải thích với tôi về cách làm, già Hyai cho hay: Mỗi chiếc áo có thể đựng được vài chiếc chiêng cùng bộ; bộ nào trên 10 chiếc thì phải dùng đến 2 áo. Phải đan liên tục 4-5 ngày mới xong 1 sản phẩm. Ngoài đan để dùng, già còn nhận làm cho bà con trong làng và các làng lân cận.

Nếu khách mang dây mây tới thì già chỉ tính công 3-4 triệu đồng/chiếc; nếu mây do người đan tự tìm thì giá là 5 triệu đồng/chiếc. Độ bền của áo chiêng có thể lên đến hàng chục năm.

Gìn giữ cho mai sau

 Ông Puih Thớk cặm cụi "đan áo" cho chiêng mỗi khi có người đặt hàng. Ảnh: P.D

Ông Puih Thớk cặm cụi "đan áo" cho chiêng mỗi khi có người đặt hàng. Ảnh: P.D

Đi cùng chúng tôi ghé thăm khoảng 5-6 nghệ nhân khác của làng Mít Jep còn nắm giữ kỹ thuật làm ra sản phẩm đặc biệt như trên, chị Hà Thị Hường - Công chức Văn hóa - Xã hội xã Ia O - chia sẻ: Thời điểm trước sáp nhập tỉnh, cả xã có trên 500 bộ cồng chiêng, nhiều nhất huyện Ia Grai (cũ) - huyện biên giới còn lưu giữ cồng chiêng nhiều nhất tỉnh.

Cả 9 làng trong xã Ia O hiện nắm trong tay di sản vô giá gồm khoảng 160 bộ chiêng quý. “Nhưng chỉ riêng làng Mít Jep, người dân đã sở hữu đến khoảng 1/3 số chiêng quý này” - chị Hường tiết lộ.

Sống ở vùng chiêng quý, gìn giữ báu vật trong nhà với giá trị hàng trăm triệu đồng, người dân không ngại gì bỏ thêm chi phí ra sắm áo đẹp cho chiêng.

Với bà con nơi đây, gìn giữ chiêng quý là bảo vệ điều vô cùng thiêng liêng. Và đây có lẽ là lý do để nghề "đan áo" cho chiêng được sáng tạo, hoàn thiện, trao truyền ở vùng này bao năm qua.

Một trong những học trò xuất sắc của già Hyai là ông Puih Thớk (SN 1977) - Đội trưởng đội cồng chiêng làng Mít Jep. Ông Thớk cũng đang sở hữu 1 bộ chiêng quý gồm 11 chiếc được mua lại từ người dân làng bên với giá hơn 300 triệu đồng. “Mê quá nên mua thôi!” - ông lý giải với giọng cười sảng khoái.

Có chiêng, ông tới nhà già Hyai xin học cách đan giỏ đựng. Sẵn có nghề đan lát nên ông học rất nhanh. Từ chỗ thuần thục, đến nay, ông đã nhận đan hàng chục chiếc áo cho chiêng quý; có tháng làm đến 5 chiếc. Ngoài kỹ thuật truyền thống, ông còn rất sáng tạo khi dùng thêm các vật liệu khác để trang trí.

Anh Puih Glíu (làng Mít Jep) vui vẻ cho biết: Gia đình anh được thừa kế 1 bộ chiêng quý của bố mẹ nên quyết định nhờ ông Thớk đan 1 chiếc giỏ đựng chiêng bằng mây rất đẹp.

 Một sáng tạo của ông Thớk với khoen lon bia và hạt cườm để trang trí khi đan giỏ chiêng. Ảnh: P.D

Một sáng tạo của ông Thớk với khoen lon bia và hạt cườm để trang trí khi đan giỏ chiêng. Ảnh: P.D

Khi chúng tôi bật ra câu hỏi: Ngồi đan trong sự lặng lẽ ngày này qua ngày khác, có khi nào người nghệ nhân cảm thấy nhàm chán? Cả già Hyai và ông Thớk bật cười: Không đâu, một khi đã chú tâm thì không bao giờ thấy chán.

Rõ ràng việc đan lát đã hé ra lối sống chậm rãi, không hề vội vã của đồng bào Tây Nguyên. Cứ từ từ làm, tới đâu hay tới đó, khi nào xong thì biết... Cuộc trò chuyện với các nghệ nhân cũng trao cho chúng tôi niềm vui về cảm hứng trao truyền tự thân trong cộng đồng.

Anh Rơ Châm Xê - Trưởng Ban Công tác mặt trận làng Mít Jep - cho biết: “Chưa cần xã vào cuộc, làng đã tự tổ chức truyền dạy cồng chiêng, đan lát, trong đó có "đan áo" cho chiêng, qua đó góp phần bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục vận động các nghệ nhân lớn tuổi truyền dạy cho thế hệ sau”.

PHƯƠNG DUYÊN

Nguồn Gia Lai: https://baogialai.com.vn/dan-ao-cho-cong-chieng-post581020.html