FD 2026: Xây dựng hệ thống cảng biển hiện đại - xanh - thông minh, trở thành động lực tăng trưởng quan trọng của TP. Hồ Chí Minh
Đến năm 2030, tầm nhìn 2050, TP. Hồ Chí Minh được kỳ vọng trở thành trung tâm logistics - cảng biển lớn nhất Đông Nam Á, cạnh tranh trực tiếp với cảng lớn châu Á và thế giới.
Đó là nhận định của ông Bùi Hòa An, Phó giám đốc Sở Xây dựng TP. Hồ Chí Minh tại phiên thảo luận chuyên đề thứ hai “Vai trò của chính quyền địa phương trong tăng cường hợp tác cảng và đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững thế hệ mới”, diễn ra vào chiều 11/9, trong khuôn khổ Đối thoại Hữu nghị TP. Hồ Chí Minh năm 2026 (FD 2026), đã diễn ra .
Chương trình còn có sự tham gia của các đại diện từ Hiệp hội Logistics và Cảng Biển (HLA), Cảng Logistics Vietnam SuperPort, Cảng Quốc tế Tân Cảng - Cái Mép, Cảng Colombo (Sri Lanka), một số địa phương, doanh nghiệp…
Tại đây, các tham luận tập trung nêu bật tầm quan trọng của việc chuyển đổi sang hệ sinh thái logistics xanh nhằm thích ứng với các tiêu chuẩn phát thải thế hệ mới.

Ông Bùi Hòa An, Phó giám đốc Sở Xây dựng TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, hệ thống cảng biển TP. Hồ Chí Minh mở rộng, bao gồm cả Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, đang đứng trước cơ hội lịch sử để trở thành trung tâm cảng biển - logistics lớn nhất cả nước và của cả khu vực. (Nguồn: TTXVN)
TP. Hồ Chí Minh đứng trước cơ hội lịch sử
Phát biểu tại phiên thảo luận, Phó giám đốc Sở Xây dựng TP. Hồ Chí Minh Bùi Hòa An nhấn mạnh, trong bối cảnh kinh tế biển và logistics đang trở thành động lực tăng trưởng quan trọng của quốc gia, hệ thống cảng biển của TP. Hồ Chí Minh sau sáp nhập, bao gồm cả các cảng thuộc Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, quy mô lớn hơn, vai trò chiến lược hơn và kỳ vọng đóng góp mạnh mẽ hơn cho khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước. Điều này đưa TP. Hồ Chí Minh trở thành trung tâm điều phối cảng biển - logistics liên vùng lớn nhất cả nước và tầm cỡ châu lục.
Bên cạnh đó, Quyết định số 1061/QĐ-BXD năm 2026 của Bộ Xây dựng điều chỉnh quy hoạch tổng thể kết cấu hạ tầng hàng hải quốc gia đặt ra yêu cầu rõ ràng: Hệ thống cảng biển Việt Nam phải tăng trưởng mạnh về sản lượng, hiện đại hóa hạ tầng, chuyển đổi xanh và tăng cường liên kết vùng. Đây chính là nền tảng để TP. Hồ Chí Minh xác định lại vị trí, vai trò và định hướng phát triển của mình trong giai đoạn 2026-2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
Cũng theo Quyết định 1061/QĐ-BXD, khu vực phía Nam được xác định là trọng điểm phát triển cảng biển quốc gia. Trong đó TP. Hồ Chí Minh là cảng biển loại đặc biệt, là hạt nhân điều phối luồng hàng hóa, kết nối trực tiếp liên vùng và hỗ trợ hình thành các tuyến vận tải thủy xanh, bền vững.
Ông Bùi Hòa An cho biết, sản lượng hàng hóa thông qua của hệ thống cảng biển TP. Hồ Chí Minh theo dự báo đến năm 2030 sẽ thông qua từ 463,4 - 512,5 triệu tấn (hàng container từ 29,63 - 33,16 triệu TEU, chưa gồm hàng trung chuyển quốc tế); hành khách từ 3,0 - 3,3 triệu lượt khách. Tầm nhìn đến 2050: Đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 4,4–4,9%/năm; hành khách tăng trưởng bình quân khoảng từ 1,0–1,4%/năm.
“Với quy mô nêu trên, có thể hình dung đến năm 2030, tầm nhìn 2050, TP. Hồ Chí Minh sẽ trở thành trung tâm logistics - cảng biển lớn nhất Đông Nam Á, cạnh tranh trực tiếp với các cảng lớn châu Á và thế giới. Đồng thời, việc chuyển đổi theo mô hình cảng xanh - cảng thông minh cũng là một xu hướng yêu cầu bắt buộc phải thực hiện”, Phó giám đốc Sở Xây dựng TP. Hồ Chí Minh nhận định.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận. (Nguồn: FD 2026)
Dựa trên vị trí, vai trò và dự báo tăng trưởng nêu trên, Thành phố đang ưu tiên định hướng một số chiến lược phát triển cảng biển xoay quanh 3 trục nhiệm vụ gồm:
Thứ nhất, đẩy mạnh đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng cảng, hệ thống giao thông kết nối giữa hệ thống cảng với các trung tâm logistics và khu vực sản xuất nhằm tối ưu hóa luồng hàng hóa, giảm chi phí logistics, tăng năng lực cạnh tranh và tăng sức hấp dẫn đối với các tuyến tàu quốc tế.
Thứ hai, xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển, đường thủy nội địa và vận tải thủy, trong đó ưu tiên đẩy mạnh phát triển cảng xanh, chuyển đổi số và tự động hóa cảng biển.
Thứ ba, xây dựng cơ chế tạo thuận lợi thương mại cho hàng hóa qua cảng bằng các cơ chế đặc thù như khu thương mại tự do, cảng mở.
Có thể nói, hệ thống cảng biển TP. Hồ Chí Minh mở rộng, bao gồm cả Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, đang đứng trước cơ hội lịch sử để trở thành trung tâm cảng biển - logistics lớn nhất cả nước và của cả khu vực. Theo ông Bùi Hoài An, với những thay đổi này, chúng ta đang đứng trước một giai đoạn chuyển mình quan trọng của hệ thống cảng biển Việt Nam. Khi chính quyền Thành phố đóng vai trò điều phối, khi doanh nghiệp đồng hành, khi tiêu chuẩn bền vững được đặt lên hàng đầu, TP. Hồ Chí Minh hoàn toàn có thể xây dựng một hệ thống cảng biển hiện đại - xanh - thông minh và trở thành động lực tăng trưởng quan trọng của địa phương.
Giải bài toán logistics

Theo bà Đặng Minh Phương, Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển TP. Hồ Chí Minh (Founder & CEO MP Logistics), thực tế, chi phí logistics tại Việt Nam hiện vẫn chiếm tới 18% GDP, cao hơn đáng kể so với các nước trong khu vực như Thái Lan hay Singapore. (Nguồn: FD 2026)
Đánh giá về bệ phóng kinh tế của địa phương sau khi mở rộng không gian phát triển, bà Đặng Minh Phương, Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển TP. Hồ Chí Minh (Founder & CEO MP Logistics) cho biết, thành phố hiện sở hữu quy mô dân số vượt 13,8 triệu người, GDP đạt 125 tỷ USD (đóng góp 23,5% GDP cả nước) và tốc độ tăng trưởng GRDP bứt phá ước đạt 8,03%.
Đặc biệt, hệ thống cảng biển mở rộng chiếm trên 65% tổng sản lượng container cả nước, đạt kỷ lục hơn 18 triệu TEU trong năm 2025, cùng cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải đủ khả năng đón trực tiếp siêu tàu container tới 24.000 TEU đi thẳng tuyến Âu - Mỹ không cần trung chuyển. Theo dự báo tại Quyết định 1579/QĐ-TTg, lượng hàng container qua khu vực sẽ duy trì nhịp độ tăng trưởng từ 7 đến 9%/năm đến năm 2030.
Tuy nhiên, bà Đặng Minh Phương chỉ ra chi phí logistics tại Việt Nam hiện vẫn chiếm tới 18% GDP, cao hơn đáng kể so với các nước trong khu vực như Thái Lan hay Singapore. Nguyên nhân cốt lõi không nằm ở chỗ thiếu kho cảng, mà xuất phát từ sự thiếu kết nối đồng bộ và tình trạng chia cắt nguồn lực liên vùng tại Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam - khu vực vốn đóng góp 45% GDP và trên 50% tổng sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển cả nước. Tình trạng quá tải tại các cửa ngõ cảng trung tâm, sự triển khai chậm trễ của hạ tầng kết nối liên vùng và việc bỏ ngỏ mạng lưới vận tải thủy nội địa do thiếu cảng cạn ICD cùng bến thủy vệ tinh đang tạo ra điểm nghẽn lớn, làm tăng chi phí và thời gian chờ đợi của doanh nghiệp.
Để giải quyết triệt để các hạn chế này, bà Đặng Minh Phương đề xuất 5 nhóm giải pháp đột phá nhằm tối ưu hóa nguồn lực: Cơ chế điều phối vùng thực chất và quy hoạch đồng bộ; khai thông đột phá hạ tầng kết nối đa phương thức; chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; mở rộng kết nối cảng biển quốc tế, chủ động tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu; Phát huy vai trò cầu nối của Hiệp hội Logistics và Cảng biển TP. Hồ Chí Minh.

Bà Ngô Thị Thanh Vy, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Cảng quốc tế QTM, xuất TP. Hồ Chí Minh thúc đẩy kết nối quốc tế theo 4 cấp độ. (Nguồn: FD 2026)
Trong khi đó, ở góc độ doanh nghiệp khai thác cảng, bà Ngô Thị Thanh Vy, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Cảng Quốc tế QTM, đặt câu hỏi mang tính định hướng là làm thế nào để các kết nối quốc tế không dừng lại ở quan hệ hợp tác mà chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của chính chuỗi cung ứng.
Bà nhận định, cuộc cạnh tranh trong tương lai không chỉ nằm ở cầu cảng riêng lẻ mà còn là sự cạnh tranh giữa các hệ sinh thái logistics. Khách hàng ngày nay quan tâm đến tổng thời gian hàng đi từ nơi sản xuất đến thị trường, chi phí toàn chuỗi, tính minh bạch dữ liệu và độ an toàn, bền vững của chuỗi cung ứng. Do đó, một cảng mạnh chưa chắc tạo nên chuỗi logistics mạnh, nhưng một hệ sinh thái logistics mạnh chắc chắn sẽ làm cảng cạnh tranh hơn.
Từ thực tiễn Cảng quốc tế QTM vừa khởi công vào tháng 7/2026 tại khu vực Cái Mép - Thị Vải, bà Ngô Thị Thanh Vy chia sẻ, doanh nghiệp lựa chọn cơ hội thiết kế tương lai ngay từ đầu, chuẩn bị đồng bộ hạ tầng, công nghệ, thị trường và khách hàng thay vì chờ cảng xây xong mới bắt đầu tìm kiếm đối tác.
Nêu quan điểm về xu hướng phát triển công nghệ và môi trường, bà Ngô Thị Thanh Vy khẳng định mô hình cảng thông minh và cảng xanh không nên xem là hai chương trình riêng biệt mà phải cùng hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả của toàn bộ chuỗi logistics và tạo thêm giá trị cho khách hàng. Chuyển đổi số không bắt đầu từ câu hỏi đầu tư công nghệ gì, mà phải bắt đầu từ việc giải quyết bài toán thực tế của khách hàng: Có giúp tàu giảm thời gian chờ, minh bạch dữ liệu hàng hóa hay cắt giảm chi phí và thủ tục hay không. Đồng thời, tiêu chuẩn xanh sẽ trở thành điều kiện cạnh tranh bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tham gia thị trường toàn cầu của doanh nghiệp.

Tọa đàm do ông Trương Tấn Lộc, Giám đốc Marketing Tổng Công ty Tân Cảng - Sài Gòn, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Công ty TNHH Cảng Quốc tế Tân Cảng - Cái Mép, Phó Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển TP. Hồ Chí Minh điều phối. (Nguồn: FD 2026)
Từ góc nhìn đó, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Cảng Quốc tế QTM đề xuất TP. Hồ Chí Minh thúc đẩy kết nối quốc tế theo 4 cấp độ: Từ thành phố với thành phố (City to City), cảng với cảng (Port to Port), doanh nghiệp với doanh nghiệp (Business to Business) đến thị trường với thị trường (Market to Market). Bà cũng kiến nghị thành phố nên chọn một số đối tác cảng biển có tính bổ trợ cao để triển khai 1-2 mục tiêu cụ thể có thể đo lường như chuyển giao công nghệ, kết nối nền tảng dữ liệu, thử nghiệm giải pháp xanh hay hình thành hành lang logistics và dòng thương mại mới
Có thể nói, thông qua phiên thảo luận, TP. Hồ Chí Minh đã đưa ra sáng kiến cùng các địa phương, đối tác quốc tế nghiên cứu, trao đổi để tiến tới xây dựng một cơ chế hợp tác đa phương giữa các thành phố cảng trong mạng lưới thành phố hữu nghị. Trước mắt, cơ quan chuyên môn của các bên tham gia sẽ nghiên cứu, đề xuất cụ thể về nội dung, mô hình và lộ trình xây dựng cơ chế trong thời gian tới.

Hệ thống cảng biển của TP. Hồ Chí Minh sau sáp nhập đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, quy mô lớn hơn, vai trò chiến lược hơn và kỳ vọng đóng góp mạnh mẽ hơn cho khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước. (Nguồn: Cổng TTĐT TP. Hồ Chí Minh)

