Lầm tưởng khiến nhiều người trẻ lỡ cơ hội làm cha mẹ

Y học hỗ trợ sinh sản ngày càng tiến bộ nhưng không thể đảo ngược tác động của tuổi tác. Chuyên gia cảnh báo hệ lụy từ xu hướng kết hôn, sinh con muộn.

 Người đến chờ khám tại Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản, Bệnh viện Bưu Điện, Hà Nội (ảnh chụp năm 2025). Ảnh: Trần Hiền.

Người đến chờ khám tại Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản, Bệnh viện Bưu Điện, Hà Nội (ảnh chụp năm 2025). Ảnh: Trần Hiền.

Theo thống kê, Việt Nam hiện có khoảng 1 triệu cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn, chiếm tỷ lệ khoảng 7,7%. Trong đó, vô sinh nguyên phát chiếm 3,9%, vô sinh thứ phát chiếm 3,8%. Đáng chú ý, khoảng 50% trường hợp là các cặp vợ chồng dưới 30 tuổi. Tỷ lệ vô sinh thứ phát, tức tình trạng không thể có thai trở lại sau khi đã từng mang thai, cũng có xu hướng gia tăng.

Không chỉ đối mặt với bài toán vô sinh, hiếm muộn, Việt Nam còn ghi nhận mức sinh thấp kéo dài. Theo Bộ Y tế, tổng tỷ suất sinh năm 2025 đạt 1,93 con/phụ nữ, tăng nhẹ so với mức 1,91 con của năm 2024 nhưng vẫn thấp hơn mức sinh thay thế 2,1 con.

Mức sinh thấp kéo dài có thể làm thay đổi sâu sắc cơ cấu dân số, kéo theo những hệ lụy đối với nguồn lao động, việc làm, tăng trưởng kinh tế và hệ thống an sinh xã hội.

Kết hôn muộn khiến cơ hội làm cha mẹ thu hẹp

Chia sẻ tại hội nghị diễn ra ở Hà Nội ngày 31/10, GS.TS Nguyễn Viết Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam, nhận định tình trạng hiếm muộn do sinh con muộn đang có xu hướng gia tăng, không chỉ tại Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Theo GS Tiến, một trong những nguyên nhân đáng chú ý là xu hướng kết hôn muộn của giới trẻ. Nhiều người ưu tiên phát triển sự nghiệp, ổn định tài chính và các mục tiêu cá nhân trước khi lập gia đình. Không ít người còn cho rằng y học hỗ trợ sinh sản ngày càng phát triển, nên có thể trì hoãn việc sinh con mà không phải lo lắng.

“Quan điểm cho rằng các kỹ thuật điều trị vô sinh ngày càng tiến bộ nên có thể chủ quan, trì hoãn việc sinh con là một sự lầm tưởng”, GS Tiến nhấn mạnh.

 GS.TS.BS Nguyễn Viết Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam, phát biểu tại hội nghị. Ảnh: BTC.

GS.TS.BS Nguyễn Viết Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam, phát biểu tại hội nghị. Ảnh: BTC.

Thực tế, khả năng sinh sản của cả nam và nữ đều chịu ảnh hưởng của tuổi tác.

Ở phụ nữ, tuổi càng cao, số lượng và chất lượng noãn càng suy giảm, khiến khả năng thụ thai tự nhiên giảm theo, đồng thời làm tăng nguy cơ bất thường nhiễm sắc thể ở phôi và các biến chứng thai kỳ.

Quan điểm cho rằng các kỹ thuật điều trị vô sinh ngày càng tiến bộ nên có thể chủ quan, trì hoãn việc sinh con là một sự lầm tưởng

GS.TS Nguyễn Viết Tiến

Nam giới cũng không nằm ngoài quy luật này. Tuổi tác có thể ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng, làm gia tăng nguy cơ tổn thương, đứt gãy DNA tinh trùng và những bất thường di truyền ở thế hệ sau.

Bên cạnh tuổi tác, sức khỏe sinh sản còn chịu tác động từ bệnh lý viêm nhiễm, các vấn đề sức khỏe nền và lối sống. Việc thường xuyên sử dụng rượu bia, hút thuốc lá hoặc tiếp xúc với môi trường độc hại có thể làm suy giảm chất lượng giao tử, ảnh hưởng đến khả năng thụ thai và sức khỏe phôi thai.

Vì vậy, trì hoãn kết hôn và sinh con có thể khiến các cặp vợ chồng gặp nhiều bất lợi hơn khi mong muốn có con, bởi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản dù tiến bộ cũng không thể khắc phục hoàn toàn ảnh hưởng của tuổi tác.

GS Tiến cho rằng nếu có kế hoạch sinh con nhưng chưa thể thực hiện, các cặp đôi nên chủ động thăm khám để xác định nguyên nhân, thay vì chờ đợi quá lâu. Việc phát hiện và điều trị sớm các bệnh lý liên quan đến sinh sản thường giúp cải thiện cơ hội điều trị.

Cần mở rộng sàng lọc và hỗ trợ chi phí điều trị

Trước thực trạng vô sinh, hiếm muộn ngày càng đáng quan tâm, GS Tiến cho rằng cần đẩy mạnh truyền thông về sức khỏe sinh sản, giúp người trẻ hiểu rõ giới hạn sinh sản theo tuổi và chủ động lên kế hoạch lập gia đình, sinh con phù hợp.

Bên cạnh đó, ông đánh giá cao định hướng triển khai sàng lọc vô sinh cho các cặp vợ chồng, đặc biệt tại các khu công nghiệp, nơi tập trung đông lao động trong độ tuổi sinh sản.

“Tôi đánh giá rất cao các chiến lược sắp tới của ngành y tế, chẳng hạn chủ trương sàng lọc vô sinh cho các cặp vợ chồng, đặc biệt ở khu công nghiệp. Nếu sàng lọc đồng loạt, tập trung, hiệu quả sẽ cao hơn và chi phí thấp hơn nhiều so với việc khám đơn lẻ”, chuyên gia nói.

Theo ông, mô hình này không nên chỉ giới hạn ở khu công nghiệp mà cần được mở rộng tới những khu vực đông dân cư, tạo điều kiện để nhiều người được tiếp cận dịch vụ kiểm tra sức khỏe sinh sản từ sớm.

 Người dân đến khám sức khỏe sinh sản ngồi chờ kín hành lang Bệnh viện Bưu điện. Ảnh: Trần Hiền.

Người dân đến khám sức khỏe sinh sản ngồi chờ kín hành lang Bệnh viện Bưu điện. Ảnh: Trần Hiền.

Về chuyên môn, GS Tiến nhận định trình độ điều trị vô sinh, hiếm muộn của Việt Nam hiện đã bắt kịp nhiều tiến bộ trên thế giới.

Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ngày càng đa dạng, từ thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI) đến trữ đông noãn, phôi và những phương pháp hỗ trợ chẩn đoán, theo dõi điều trị.

Tuy nhiên, sự phát triển của kỹ thuật cũng đặt ra yêu cầu cá thể hóa phác đồ, lựa chọn phương pháp phù hợp với tình trạng sức khỏe, nguyên nhân vô sinh và nhu cầu của từng người bệnh. Mục tiêu không chỉ là tăng khả năng mang thai mà còn hướng tới nâng cao tỷ lệ trẻ sinh sống an toàn.

Một rào cản lớn hiện nay là chi phí điều trị vẫn vượt quá khả năng của nhiều gia đình. Với những trường hợp phải trải qua nhiều chu kỳ hỗ trợ sinh sản, gánh nặng tài chính có thể khiến người bệnh phải trì hoãn hoặc từ bỏ điều trị.

Từ thực tế này, GS Tiến bày tỏ mong muốn Nhà nước có những chính sách hỗ trợ thiết thực hơn, chẳng hạn chi trả một phần chi phí thăm khám, xét nghiệm ban đầu hoặc hỗ trợ một phần kinh phí trong chu kỳ điều trị đầu tiên.

Ông cho rằng khi có thêm nguồn lực từ Nhà nước và sự chung tay của xã hội, các cặp vợ chồng hiếm muộn sẽ có thêm cơ hội tiếp cận những phương pháp điều trị phù hợp.

Phương Anh

Nguồn Znews: https://znews.vn/lam-tuong-khien-nhieu-nguoi-tre-lo-co-hoi-lam-cha-me-post1693288.html