Nón lá làng Chuông: Ba lớp lá, 16 vòng tre và hồn nghề xứ Bắc
Qua hàng trăm năm, làng Chuông vẫn giữ những kỹ thuật làm nón lá độc đáo, đồng thời đưa họa tiết hiện đại, thương mại điện tử và du lịch trải nghiệm vào hành trình làm mới sản phẩm truyền thống.

Nón lá làng Chuông nó nhiều nét độc đáo khác biệt với nón lá các vùng khác. (Ảnh: Vân Chi/TTXVN phát)
"Muốn ăn cơm trắng, cá trêMuốn đội nón lá thì về làng Chuông"
Câu ca dao xưa cũng chính lời giới thiệu giản dị mà đầy tự hào về làng Chuông - một làng nghề truyền thống lâu đời nằm bên dòng sông Đáy hiền hòa thuộc địa phận xã Thanh Oai, cách trung tâm Hà Nội khoảng 30km.
Hàng trăm năm giữ nghề
Theo các bậc cao niên trong làng, nghề làm nón ở Chuông đã có từ khoảng thế kỷ thứ 8. Khi ấy, làng có tên Trang Thời Trung và những người thợ đã làm nhiều loại nón phục vụ các tầng lớp trong xã hội, từ nón ba tầm dành cho phụ nữ đến nón nhô, nón long, nón dấu, nón chóp dành cho nam giới.
Trước thế kỷ 20, sản phẩm truyền thống của làng chủ yếu là nón ba vòng, nón thúng, nón quai thao. Nón ba vòng có vành lớn, thành nông, phù hợp với người nông dân sử dụng khi làm đồng. Nón thúng, hay quai thao, có vành rộng, hai bên buộc quai, thường được các cụ già sử dụng khi đi chùa.

Các nghệ nhân làng Chuông trình diễn nghề làm nón truyền thống. (Ảnh: Nguyễn Cúc/TTXVN)
Theo thời gian, nhu cầu sử dụng thay đổi, nón quai thao dần vắng bóng trong đời sống thường nhật. Người thợ làng Chuông chuyển sang làm những chiếc nón chóp gọn nhẹ, phù hợp hơn với sinh hoạt và thị hiếu hiện đại. Nghề vẫn được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên một trong những chiếc nôi sản xuất nón lá nổi tiếng của Hà Nội.
Nét độc đáo khác biệt của nón lá làng Chuông
Ở trên khắp mọi miền của đất nước Việt Nam có nhiều làng nghề làm nón lá, nhưng chiếc nón lá làng Chuông có nét đặc trưng riêng.
Quy trình làm nón làng Chuông gồm 3 công đoạn chính với khoảng 10 bước tỉ mỉ. Để tạo ra một chiếc nón lá đẹp, bền và thanh thoát, người thợ phải trải qua các bước thủ công nghiêm ngặt. Trong đó, điểm đặc biệt nhất của nón làng Chuông là kết cấu lợp đủ 3 lớp lá dày dặn, cứng cáp, khác biệt với sự thanh mảnh, nhìn thấu quang của nón bài thơ xứ Huế hay nón lá Nam Bộ.
Ba lớp lá nón làng Chuông bao gồm lớp lá lót bên trong, lớp mo nứa (hoặc mo tre) ở giữa để tạo độ cứng, và lớp lá lụi mướt phẳng ở ngoài cùng. Khi cầm lên, nón vừa chắc chắn, chịu được mưa nắng khắc nghiệt mà vẫn giữ được độ nhẹ, thanh thoát.

Nghệ nhân Phạm Thị Vấn của làng Chuông hoàn tất sản phẩm nón lá. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)
Cách làm này tạo nên sự khác biệt khá rõ với nón bài thơ Huế, vốn thường sử dụng hai lớp lá mỏng. Người thợ khéo léo chèn thêm lớp giấy cắt chữ hoặc bài thơ vào giữa. Khi soi lên ánh Mặt trời sẽ nhìn thấy rõ hoa văn.
Nét riêng của nón Chuông còn bắt đầu từ cách xử lý lá. Lá lụi (lá cọ) được nhập từ một số tỉnh miền Trung như Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Trị... Lá sau khi mua về được người thợ vò trong cát để làm sạch nhựa và làm mềm trước khi phơi. Tiếp đó, người thợ dùng bằng lưỡi cày bằng gang nung nóng, miết lên mặt lá giúp lá phẳng lì nhưng không bị giòn, không rách.
Khung nón cũng được làm theo quy chuẩn riêng. Một chiếc nón Chuông có 16 vòng tre từ chóp xuống vành. Nan tre được vót tròn, đều, nhẵn; các điểm nối được quấn bằng guột để tạo thành những vòng tròn liền mạch.
Trong khi đó, một số dòng nón lá Nam Bộ như nón lá dừa, nón Gò Găng thường có dáng rộng và dẹt hơn, số lượng vành hoặc khoảng cách giữa các vành cũng được điều chỉnh theo đặc điểm vật liệu và nhu cầu sử dụng ở phương Nam.
Đặc biệt, sự khéo léo của người thợ còn thể hiện ở kỹ thuật giấu mũi chỉ. Nón Chuông được khâu bằng sợi cước trong suốt từ đỉnh xuống vành. Các mối nối đều được giấu kín một cách tinh tế, đường kim đều tăm tắp. Nhờ khâu kín kẽ, nón làng Chuông có độ bền vượt trội, đi mưa không sợ thấm qua lỗ kim.
Một chiếc nón Chuông hoàn thiện hiện có giá khoảng 40.000-150.000 đồng, tùy chất lượng nguyên liệu, độ bền và độ cầu kỳ của từng đường khâu.

Phiên chợ nón làng Chuông họp theo các ngày 4, 10, 14, 20, 24 và 30 âm lịch hằng tháng, diễn ra từ khoảng 4 giờ 30 đến 7 giờ sáng. (Ảnh: Vân Chi/TTXVN phát)
Một điểm độc đáo nữa của làng Chuông là những phiên chợ họp chớp nhoáng từ 4h-7h sáng vào các ngày mùng 4, 10, 14, 20, 24 và 30 âm lịch mỗi tháng để những người có nhu cầu đến mua-bán các sản phẩm nón cũng như nguyên liệu làm nón. Việc trao đổi, mua bán nguyên liệu diễn ra trực tiếp giữa người dân trong làng, hình thành chuỗi cung ứng khép kín ngay trong làng nghề.
Gen Z thổi hơi thở thời đại vào sản phẩm truyền thống
Nếu những người lớn tuổi gìn giữ kỹ thuật truyền thống thì lớp trẻ đang tìm cách đưa nón Chuông bước vào đời sống đương đại.
Lớn lên cùng mạng xã hội và công nghệ đồ họa, nhiều bạn trẻ trong làng đã sáng tạo thêm các họa tiết, tranh vẽ và hình ảnh thời sự trên nền nón. Dịp 30/4, hình ảnh chiến sỹ bộ đội được đưa lên nón; vào Quốc khánh 2/9, sắc đỏ của cờ Tổ quốc và ngôi sao vàng trở thành nguồn cảm hứng. Những sự kiện lớn của đất nước cũng được chuyển tải bằng những nét vẽ trẻ trung.
Chiếc nón vì thế không còn đơn thuần là vật dụng che nắng, che mưa mà trở thành một sản phẩm thủ công-mỹ nghệ mang câu chuyện và thông điệp văn hóa.

Nghệ nhân làm nón lá truyền thống làng Chuông truyền nghề cho thế hệ trẻ. (Ảnh: Nguyễn Cúc/TTXVN)
Các bạn trẻ cũng chủ động đưa sản phẩm lên mạng xã hội, từ chụp ảnh, quay video quá trình làm và vẽ nón đến giới thiệu sản phẩm trên các sàn thương mại điện tử, hướng tới những thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc - nơi có sự quan tâm đối với sản phẩm thủ công tinh xảo, giàu bản sắc.
Sự kết hợp giữa kỹ thuật thủ công truyền thống và tư duy thiết kế hiện đại đang mở thêm cơ hội để nón Chuông tiếp cận khách hàng trẻ trong nước và quốc tế.
Phát triển du lịch làng nghề gắn với sản phẩm OCOP
Cùng với việc gìn giữ nghề truyền thống, làng Chuông đang từng bước tìm hướng phát triển mới thông qua du lịch làng nghề.
Từ năm 2024, Sở Công Thương Hà Nội phối hợp với huyện Thanh Oai (cũ) xây dựng Trung tâm Thiết kế sáng tạo, giới thiệu, quảng bá và bán sản phẩm OCOP, làng nghề nón Chuông. Nhiều hộ sản xuất lành nghề được tạo điều kiện giới thiệu và bán sản phẩm tại đây.
Địa phương cũng triển khai các giải pháp hỗ trợ làng nghề, nghệ nhân, mở rộng thị trường, quảng bá, xúc tiến và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch.

Du khách nước ngoài thử tay nghề trong một công đoạn làm nón Chuông. Người dân làng Chuông, Hà Nội giờ đây có cơ hội để tham gia vào chuỗi kinh tế du lịch bằng chính giá trị truyền thống của làng nghề. (Ảnh: Mai Huyền/Vietnam+)
Xã Thanh Oai xác định phát triển du lịch làng nghề là một hướng đi quan trọng, trong đó nón Chuông được kỳ vọng trở thành một trong những sản phẩm đặc trưng, tạo sức hút đối với du khách. Mục tiêu không chỉ là bán một chiếc nón mà còn để du khách được nhìn thấy câu chuyện phía sau sản phẩm: từ tàu lá, nan tre đến những đường kim mũi chỉ và bàn tay người thợ.
Giữa nhịp sống hiện đại, nghề làm nón ở làng Chuông tiếp tục hơi thở mới. Những chiếc nón lá mộc mạc theo các bà, các mẹ đi chợ, đi làm đồng, theo du khách về những miền đất mới, và giờ đây còn bước lên không gian số bằng một diện mạo trẻ trung hơn.
Có lẽ chính khả năng vừa giữ được hồn cũ, vừa mở ra cách kể mới đã giúp chiếc nón làng Chuông vượt khỏi giới hạn của một sản phẩm thủ công, trở thành một lát cắt sinh động của văn hóa làng quê Bắc Bộ và một điểm nhấn đầy tiềm năng trong hành trình phát triển du lịch làng nghề của Hà Nội./.
