Thể chế hóa đầy đủ, toàn diện về sử dụng đất kết hợp đa mục đích
Tiếp tục phiên thảo luận sáng nay, 29/10 về dự án Luật Đất đai (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội đề nghị quy định về sử dụng đất kết hợp đa mục đích cần được đặc biệt quan tâm, thể chế hóa đầy đủ, toàn diện, đảm bảo tính khả thi cao.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chủ trì phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành nội dung phiên họp. Ảnh: Phạm Thắng
Tối đa hóa nguồn lực đất đai
Quan tâm đến đất sử dụng kết hợp đa mục đích, ĐBQH Nguyễn Mạnh Hùng (TP. Cần Thơ) nêu rõ, sử dụng đất kết hợp đa mục đích giúp tối đa hóa nguồn lực đất đai, gia tăng giá trị kinh tế và thu nhập, đảm bảo quốc phòng, an ninh, an ninh lương thực kết hợp phát triển kinh tế, đồng thời góp phần thúc đẩy chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Nghị quyết số 21 của Trung ương yêu cầu hoàn thiện các quy định đối với quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với sản xuất và xây dựng kinh tế; hoàn thiện các quy định và có cơ chế quản lý, kiểm soát việc sử dụng đất kết hợp đa mục đích.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành nội dung phiên họp. Ảnh: Phạm Thắng
Vì vậy, đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng, các quy định về sử dụng đất kết hợp đa mục đích cần được đặc biệt quan tâm và được thể chế hóa đầy đủ, toàn diện, đảm bảo tính khả thi cao tại dự thảo Luật lần này.
Tại dự thảo Luật, nội dung này được quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 82 và Điều 89. Theo đó, Điều 82 chỉ nêu rất khái quát về khuyến khích sử dụng đất đa mục đích và nguyên tắc bảo đảm mục đích chính của loại đất này. Điều 89 có quy định về sử dụng đất kết hợp đa mục đích thay thế cho Điều 218 của Luật hiện hành.
Đại biểu chỉ rõ, các quy định tại Điều 89 mới chỉ dừng lại ở chỗ thay vì quy định chi tiết các loại đất được sử dụng kết hợp đa mục đích ngay tại dự thảo Luật thì giao Chính phủ quy định chi tiết. Vì vậy, nội dung liên quan đến đất kết hợp đa mục đích còn chung chung, chưa đầy đủ, toàn diện theo yêu cầu của Nghị quyết 21 nhằm đáp ứng yêu cầu về tránh lãng phí và tăng cường sử dụng hiệu quả đất đai.
Đại biểu đề nghị, bổ sung khái niệm về đất kết hợp đa mục đích tại Điều 3 về giải thích từ ngữ. Bổ sung tại Điều 5 về nguyên tắc quản lý, sử dụng đất quy định cho phép sử dụng đất linh hoạt, kết hợp đa mục đích để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phát huy cao nhất lợi ích mà đất đai mang lại cho phát triển kinh tế và an sinh xã hội.

ĐBQH Nguyễn Mạnh Hùng (TP. Cần Thơ) phát biểu. Ảnh: Hồ Long
Đồng thời, đề nghị bổ sung loại đất kết hợp đa mục đích tại Điều 9 về phân loại đất. Hiện điều này chỉ nêu ba nhóm lớn là đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất dự trữ phát triển. Trong mỗi nhóm chia các loại đất cụ thể mà chưa đề cập đất kết hợp đa mục đích là loại đất có thể nằm trong cả ba nhóm loại đất nêu trên.
Nghiên cứu bổ sung tại khoản 2 Điều 30 về nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Theo đó, cần đưa thêm nguyên tắc về việc dành chỉ tiêu sử dụng đất cho đất sử dụng kết hợp đa mục đích.
Đại biểu kiến nghị, cân nhắc bổ sung quy định về việc cho phép chuyển một phần mục đích sử dụng đất nông nghiệp hay đất phi nông nghiệp sang mục đích khác trên cùng một thửa đất nhằm thực hiện khai thác hiệu quả đất kết hợp đa mục đích. Ví dụ như là chuyển một phần đất nông nghiệp sang đất du lịch sinh thái hoặc đất cho dự án năng lượng kết hợp với đất nông nghiệp.

Toàn cảnh phiên thảo luận tại hội trường sáng 29/10. Ảnh: Khánh Duy
Hiện dự thảo Luật mới chỉ có quy định về việc được sử dụng đất kết hợp đa mục đích mà không phải thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất khi thuê lại quyền sử dụng đất rừng sản xuất không phải là đất quốc phòng, an ninh để thực hiện thăm dò, khai thác khoáng sản nhóm 3 và nhóm 4 theo quy định của pháp luật về khoáng sản tại khoản 2 Điều 89.
Đại biểu cũng đề nghị, tại Điều 89 về sử dụng đất kết hợp đa mục đích, cần cân nhắc bổ sung nguyên tắc phân định rõ mục đích chính và mục đích kết hợp; quy định tiêu chí không làm thay đổi mục đích sử dụng đất chính; có cơ chế phân cấp, phân quyền để tăng tính chủ động cho chính quyền địa phương trong việc thẩm định và chấp thuận các phương án sử dụng đất kết hợp của người sử dụng đất; đơn giản hóa thủ tục khi chuyển mục đích sử dụng đất; bổ sung quy định về nghĩa vụ tài chính hợp lý, ưu đãi mô hình xanh đối với kết hợp đa mục đích.
Đồng thời, bảo đảm các quy định về loại đất này cần được rà soát thận trọng, chặt chẽ để đồng bộ với các hệ thống pháp luật về đất đai, xây dựng, môi trường, nhất là các quy chuẩn, tiêu chuẩn về an toàn môi trường.
Xử lý đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường
Tại khoản 4 Điều 15, khoản 2, khoản 3 Điều 83 dự thảo Luật đã quy định về chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số và việc xử lý đối với diện tích đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh để ưu tiên thực hiện chính sách này. Tuy nhiên, ĐBQH Trần Nhật Minh (Nghệ An) lưu ý, dự thảo Luật chưa đề cập đến đất do các ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ quản lý.

ĐBQH Trần Nhật Minh (Nghệ An) phát biểu. Ảnh: Hồ Long
Qua thực tế khảo sát và tiếp xúc cử tri tại địa phương, đại biểu nêu rõ, có tình trạng đất ở, đất sản xuất của người dân sử dụng ổn định từ trước khi có quy hoạch rừng đặc dụng, rừng phòng hộ. Nhưng trong quá trình quy hoạch chưa bóc tách hết phần diện tích này nên vẫn nằm trong phạm vi quản lý hoặc quy hoạch lâm nghiệp, nhất là đất xen kẹt giữa các khe suối, ruộng nước không đủ điều kiện bóc tách ra khỏi quy hoạch lâm nghiệp nhưng chưa có cơ chế cụ thể để xử lý.
Đại biểu cho biết, vấn đề này đã được quy định tại Điều 54 về ổn định đời sống dân cư trong rừng đặc dụng và vùng đệm của rừng đặc dụng, Điều 57 về sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp kết hợp trong rừng phòng hộ của Luật Lâm nghiệp. Nhưng cũng mới dừng ở mức quy định nguyên tắc chung chứ chưa có các cơ chế cụ thể như đối với đất của nông, lâm trường quốc doanh.
Đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung vào dự thảo Luật chính sách đối với diện tích đất ở, đất sản xuất người dân đang sử dụng ổn định trước khi quy hoạch khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ. Sau khi được điều chỉnh ra khỏi quy hoạch lâm nghiệp thì ban quản lý rừng bàn giao về cho UBND cấp xã để giao đất, công nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng.
Đồng thời, đại biểu đề nghị bổ sung vào dự thảo Nghị quyết cơ chế xử lý đối với diện tích đất canh tác manh mún, nhỏ lẻ của người dân tại các bãi bằng ven suối nằm xen trong rừng đặc dụng, rừng phòng hộ không đủ điều kiện để bóc tách ra khỏi quy hoạch lâm nghiệp thì giao cho người đang sử dụng quản lý, sử dụng có điều kiện như: sử dụng ổn định theo hiện trạng, không mở rộng diện tích, không chuyển nhượng, không chuyển mục đích sử dụng, chấp hành quy định về quản lý và bảo vệ rừng, nếu có vi phạm thì bị Nhà nước thu hồi.
"Chính sách này cũng phù hợp với quy định của Luật Lâm nghiệp về ổn định sinh kế cho người dân ở rừng đặc dụng, rừng phòng hộ", đại biểu Trần Nhật Minh nhấn mạnh.
Cũng liên quan đến đất có nguồn gốc nông, lâm trường, ĐBQH Hoàng Ngọc Định (Tuyên Quang) đề nghị thống nhất giữa Điều 82 và khoản 4 Điều 111 dự thảo Luật.

ĐBQH Hoàng Ngọc Định (Tuyên Quang) phát biểu. Ảnh: Hồ Long
Cụ thể, điểm a khoản 2 Điều 82 yêu cầu UBND cấp tỉnh tổ chức rà soát phương án đã được phê duyệt, quyết định tiếp tục thực hiện hoặc lập phương án theo luật mới. Trong khi đó, khoản 4 Điều 111 lại cho phép công ty nông, lâm nghiệp đã có phương án được phê duyệt nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận thì được cấp giấy chứng nhận mà không phải rà soát hiện trạng sử dụng đất, lập phương án theo khoản 2 Điều 82. Như vậy, hai quy định chưa thống nhất về yêu cầu rà soát trước khi cấp giấy chứng nhận.
Đại biểu thẳng thắn, sau khi phương án được phê duyệt có thể đã phát sinh biến động ranh giới, giao khoán, tranh chấp hoặc diện tích phải bàn giao. Nếu không kiểm tra những biến động đó, có thể xác lập quyền sử dụng đất trên phần diện tích chưa được xử lý dứt điểm.
Do vậy, cần chỉnh lý khoản 4 Điều 111 theo hướng không bắt lặp lại toàn bộ phương án đã phê duyệt hợp pháp nhưng phải kiểm tra những biến động về hiện trạng ranh giới, tranh chấp, giao khoán và nghĩa vụ bàn giao đất trước khi cấp giấy chứng nhận. Diện tích không biến động, không tranh chấp, đang sử dụng đúng phương án thì được thực hiện thủ tục đơn giản.
Đồng thời tại khoản 3 Điều 82 cần xác định rõ phần diện tích bàn giao về địa phương chỉ trở thành quỹ đất bố trí cho đối tượng chính sách sau khi đã làm rõ quyền hợp pháp của người đang sử dụng và tình trạng tranh chấp. Đây là yêu cầu rất thiết thực đối với các tỉnh miền núi có nhiều đất nguồn gốc nông, lâm trường.
