TS. Cấn Văn Lực: Cần quản lý dòng vốn theo bản chất rủi ro thay vì tên gọi

Theo TS. Cấn Văn Lực, cơ quan quản lý cần chuyển từ cách tiếp cận cào bằng, dựa chủ yếu vào tên gọi của sản phẩm, mô hình hay chủ thể sang quản lý dựa trên mức độ rủi ro thực tế.

Phát triển thêm các kênh huy động vốn là điều kiện cần để đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế. Tuy nhiên, dòng vốn chỉ có thể đến đúng nơi và phát huy hiệu quả khi cơ chế quản lý theo kịp rủi ro thị trường, còn doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị và minh bạch thông tin.

Đổi mới quản lý để mở rộng thị trường vốn

Nhu cầu vốn lớn phục vụ mục tiêu tăng trưởng đang đặt ra yêu cầu giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Trong khi đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu và các quỹ đầu tư vẫn cần tiếp tục phát triển để chia sẻ vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Ông Lực cho rằng cần quản lý dựa trên mức độ rủi ro thực tế. Ảnh: DP

Ông Lực cho rằng cần quản lý dựa trên mức độ rủi ro thực tế. Ảnh: DP

Chia sẻ với TheLEADER bên lề buổi hội thảo về khơi thông nguồn vốn, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, thị trường tài chính có nhiều loại hình hoạt động và sản phẩm mới, trong khi mức độ rủi ro giữa các hoạt động không giống nhau.

Vì vậy, cơ quan quản lý cần chuyển từ cách tiếp cận cào bằng, dựa chủ yếu vào tên gọi của sản phẩm, mô hình hay chủ thể sang quản lý dựa trên mức độ rủi ro thực tế.

Nguyên tắc này hướng tới việc nhận diện và kiểm soát rủi ro theo bản chất hoạt động thay vì chỉ căn cứ vào cách một sản phẩm hoặc dịch vụ được định danh.

Khi thị trường xuất hiện những mô hình mới, cách quản lý cần đủ linh hoạt để theo kịp sự thay đổi, đồng thời bảo đảm các rủi ro được giám sát phù hợp.

Đây cũng là một điều kiện để phát triển các kênh dẫn vốn mới. Nếu cơ chế quản lý chưa theo kịp sự đổi mới của thị trường, những nguồn vốn có khả năng bổ sung cho tín dụng ngân hàng sẽ khó phát huy hết vai trò.

Ngược lại, quản lý dựa trên rủi ro có thể tạo dư địa cho thị trường phát triển nhưng vẫn phải đi cùng yêu cầu minh bạch, an toàn và bảo vệ nhà đầu tư.

Ông Lực cho rằng cần triển khai đồng bộ các định hướng phát triển thị trường vốn, thị trường ngân hàng và nâng hạng thị trường chứng khoán.

Trong đó, các đề án phát triển thị trường vốn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và phát triển ngành ngân hàng đến năm 2030 là những định hướng cần được cụ thể hóa bằng các giải pháp thực chất.

Mục tiêu không đơn thuần là tăng quy mô thị trường mà còn tạo thêm lựa chọn huy động vốn cho doanh nghiệp và cải thiện khả năng phân bổ nguồn lực. Thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư phát triển sẽ giúp giảm áp lực cung ứng vốn trung, dài hạn lên ngân hàng, đồng thời mở rộng cơ hội tham gia của nhà đầu tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Khơi thông dòng vốn, nâng hiệu quả phân bổ

Bên cạnh việc mở rộng nguồn cung vốn, khả năng chuyển hóa nguồn lực thành hoạt động đầu tư thực chất cũng là vấn đề cần được chú trọng.

Theo ông Lực, bất động sản có mối liên hệ với khoảng 35 ngành nghề, nên việc tháo gỡ vướng mắc cho các dự án có thể tạo tác động lan tỏa tới nhiều lĩnh vực của nền kinh tế.

Ông cho biết, trong khoảng 5.000 dự án gặp vướng mắc, hơn 3.600 dự án đã được tháo gỡ, qua đó khơi thông khoảng 2,4 triệu tỷ đồng vốn. Kết quả này cho thấy xử lý các điểm nghẽn về thể chế và thủ tục có thể giúp nguồn lực đang bị đình trệ quay trở lại nền kinh tế.

Tuy nhiên, khơi thông vốn mới là bước đầu. Hiệu quả cuối cùng còn phụ thuộc vào việc nguồn lực được đưa vào đâu, có phù hợp với nhu cầu thực tế hay không và tạo ra giá trị như thế nào.

Nếu vốn tiếp tục tập trung vào những lĩnh vực có khả năng hấp thụ hạn chế hoặc được sử dụng kém hiệu quả, việc mở rộng nguồn cung khó chuyển hóa tương xứng thành tăng trưởng.

Điều này đòi hỏi quá trình phát triển thị trường tài chính phải gắn với nâng cao chất lượng phân bổ vốn.

Các kênh huy động cần tạo điều kiện để nguồn lực đến được những doanh nghiệp, dự án có phương án kinh doanh khả thi, đồng thời giúp nhà đầu tư đánh giá được hiệu quả và rủi ro trước khi quyết định rót vốn.

Áp lực này càng rõ khi tín dụng ngân hàng vẫn tăng nhanh hơn huy động vốn. Trong bối cảnh ngân hàng phải cân đối nguồn vốn và nỗ lực giảm lãi suất cho vay, việc đa dạng hóa nguồn huy động, gia tăng tiền gửi không kỳ hạn (CASA), tiết giảm chi phí vận hành và ứng dụng công nghệ có thể hỗ trợ giảm chi phí vốn.

Dù vậy, dư địa điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cũng có giới hạn, nhất là khi tăng trưởng tín dụng tiếp tục tạo áp lực lên thanh khoản và cân đối nguồn vốn.

Theo ông Lực, vì vậy, cần khơi thông thêm các kênh vốn khác để chia sẻ gánh nặng với hệ thống ngân hàng. Nguồn vốn từ thị trường cổ phiếu, trái phiếu, các quỹ đầu tư, kiều hối và tiền tiết kiệm trong dân cần được huy động, phân bổ hiệu quả hơn.

Khi doanh nghiệp có thêm lựa chọn phù hợp với nhu cầu vốn và khả năng trả nợ, nền kinh tế sẽ giảm bớt sự lệ thuộc vào một kênh tài trợ duy nhất.

Cần quản lý theo rủi ro chứ không quản lý theo tên gọi, bởi thị trường tài chính luôn xuất hiện những loại hình, sản phẩm mới với mức độ rủi ro khác nhau.

TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV

Cải thiện chất lượng quản trị

Sự phát triển của thị trường vốn chỉ tạo thêm cơ hội huy động chứ chưa bảo đảm mọi doanh nghiệp đều có thể tiếp cận nguồn tài trợ.

Theo số liệu FiinGroup được công bố vào tháng 9/2026, tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa có dư nợ vay ngân hàng đạt khoảng 20,5%, trong khi tỷ lệ này ở nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ chỉ khoảng 8,8%. Những con số này cho thấy khả năng tiếp cận tín dụng vẫn là trở ngại với một bộ phận doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm có quy mô nhỏ.

Trong bối cảnh đó, phát triển thêm các kênh huy động vốn cần đi cùng việc cải thiện năng lực đáp ứng yêu cầu của bên cấp vốn.  

Doanh nghiệp cần chuẩn hóa báo cáo tài chính, minh bạch các nghĩa vụ nợ, cải thiện quản trị dòng tiền và xây dựng phương án sử dụng vốn rõ ràng. Ảnh: Hoàng Anh

Doanh nghiệp cần chuẩn hóa báo cáo tài chính, minh bạch các nghĩa vụ nợ, cải thiện quản trị dòng tiền và xây dựng phương án sử dụng vốn rõ ràng. Ảnh: Hoàng Anh

Theo TS. Cấn Văn Lực, doanh nghiệp cần đa dạng hóa nguồn vốn, sử dụng vốn đúng mục đích và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số để nâng cao tính minh bạch. Dữ liệu đầy đủ, đáng tin cậy giúp các tổ chức tài chính và nhà đầu tư phân tích thông tin chính xác hơn, từ đó nhận diện cơ hội đầu tư và tài trợ phù hợp.

Để thực hiện điều này, doanh nghiệp cần chuẩn hóa báo cáo tài chính, minh bạch các nghĩa vụ nợ, cải thiện quản trị dòng tiền và xây dựng phương án sử dụng vốn rõ ràng.

Đây là những việc cần làm song song với quá trình tìm kiếm các kênh huy động mới, bởi bên cấp vốn cần có cơ sở để đánh giá tình hình tài chính, khả năng thực hiện kế hoạch kinh doanh và mức độ rủi ro của từng phương án.

Chuyển đổi số vì thế cần gắn với cải thiện chất lượng quản trị và khả năng giải trình thay vì chỉ dừng ở ứng dụng công nghệ trong quy trình vận hành.

Khi thông tin tài chính và hoạt động kinh doanh được chuẩn hóa, doanh nghiệp có thể nâng cao độ tin cậy với bên cấp vốn, còn nhà đầu tư có thêm cơ sở để đánh giá rủi ro và lựa chọn phương án tài trợ.

Nếu thiếu minh bạch hoặc không chứng minh được hiệu quả sử dụng vốn, doanh nghiệp vẫn có thể gặp khó khăn ngay cả khi thị trường xuất hiện thêm sản phẩm tài chính mới. Ngược lại, năng lực quản trị tốt giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong lựa chọn nguồn vốn, hạn chế rủi ro mất cân đối tài chính và sử dụng vốn sát với nhu cầu sản xuất, kinh doanh.

Như vậy, khơi thông dòng vốn cần được thực hiện đồng thời ở cả phía cung và phía cầu. Cơ quan quản lý cần xây dựng cơ chế giám sát phù hợp với mức độ rủi ro của thị trường, trong khi doanh nghiệp phải nâng cao tính minh bạch và hiệu quả sử dụng vốn.

Khi hai điều kiện này được cải thiện, việc mở rộng các kênh tài trợ mới mới có thể góp phần đưa nguồn lực đến đúng nơi, tạo thêm dư địa cho đầu tư và tăng trưởng.

Nam Hải

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/ts-can-van-luc-can-quan-ly-dong-von-theo-ban-chat-rui-ro-thay-vi-ten-goi-d48217.html