Khai thác không gian phát triển mới, tạo động lực tăng trưởng từ liên kết vùng
Tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội, Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu nhấn mạnh yêu cầu tăng cường liên kết vùng, khắc phục những điểm nghẽn về hạ tầng và cơ chế điều phối. Phát huy lợi thế bổ trợ giữa các địa phương, tổ chức lại không gian phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn lực được xem là những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng năm 2027 và các năm tiếp theo.
Liên kết vùng cần chuyển từ tư duy địa phương sang lợi ích tổng thể
Các đại biểu Quốc hội ghi nhận sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cùng nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương trong việc giữ ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì tăng trưởng tích cực giữa bối cảnh năm 2026 còn nhiều khó khăn, thách thức.
Tuy nhiên, để tạo bước chuyển mạnh mẽ trong năm 2027 và giai đoạn tiếp theo, liên kết vùng cần được nhìn nhận là một trong những khâu đột phá. Đại biểu Lê Đào An Xuân (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) cho rằng, hiện nay vẫn tồn tại những hạn chế trong tổ chức chuỗi giá trị, phối hợp đầu tư và điều phối phát triển giữa các địa phương.

Đại biểu Lê Đào An Xuân (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk).
Theo đại biểu, thứ nhất, việc tổ chức chuỗi giá trị và phối hợp đầu tư chưa theo kịp không gian vùng mới, trong khi tư duy phát triển vẫn thiên về lợi ích riêng của từng địa phương. Thực tiễn tại khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên cho thấy, sau sắp xếp địa giới hành chính, nhiều tỉnh như Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng có điều kiện tự nhiên tương đồng và cùng định hướng phát triển công nghiệp chế biến, du lịch, năng lượng, logistics.
Nếu không có đánh giá tổng thể về thị trường, quy mô và nhu cầu đầu tư, các địa phương có thể triển khai những dự án tương tự, dẫn đến phân tán nguồn lực và giảm hiệu quả phát triển.
Thứ hai, cách giao và đánh giá chỉ tiêu tăng trưởng chưa phản ánh đầy đủ yêu cầu liên kết vùng. Khi mỗi tỉnh tập trung vào mục tiêu GRDP riêng, động lực phát triển cục bộ có thể gia tăng. Trong khi đó, những hoạt động tạo lợi ích lan tỏa cho toàn vùng như bảo vệ rừng đầu nguồn hay đầu tư hạ tầng kết nối chưa được ghi nhận tương xứng trong kết quả kinh tế của từng địa phương.
Thứ ba, cơ chế điều phối vùng chưa được thể chế hóa và vận hành tương xứng với yêu cầu mới. Đại biểu cho rằng, các Hội đồng điều phối vùng cần được kiện toàn sau sắp xếp địa giới hành chính, với thẩm quyền đủ mạnh để xử lý những vấn đề liên tỉnh, giải quyết xung đột quy hoạch và điều phối các dự án đầu tư trọng điểm.
Từ thực tế trên, đại biểu Lê Đào An Xuân kiến nghị Chính phủ bổ sung tiêu chí đánh giá hiệu quả liên kết vùng; từng bước đổi mới cách giao và đánh giá chỉ tiêu tăng trưởng, kết hợp kết quả GRDP với trách nhiệm và đóng góp của từng địa phương đối với mục tiêu chung của vùng.
Đồng thời, cần kiện toàn Hội đồng điều phối vùng theo hướng có thẩm quyền thực chất, đủ khả năng đánh giá vấn đề liên tỉnh, xử lý xung đột quy hoạch, điều phối danh mục đầu tư gắn với các hành lang kinh tế và đề xuất phân bổ nguồn lực. Việc điều phối cần bảo đảm một đầu mối thống nhất, không phát sinh thêm cấp trung gian, đồng thời xác định rõ trách nhiệm và kết quả cần đạt được.
Đối với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ - Tây Nguyên, đại biểu đề nghị tăng nguồn lực đầu tư hạ tầng liên kết, nhất là các trục Đông - Tây, nhằm khai thác không gian rừng - biển sau sắp xếp. Phân bổ vốn đầu tư công cần ưu tiên những kết nối thiết yếu và địa bàn còn khó khăn, tránh tập trung nguồn lực vào những nơi vốn đã có lợi thế về cơ chế và khả năng thu hút đầu tư.
Đại biểu cũng đề xuất có chính sách đột phá đối với những khu vực giữ vai trò trung tâm trong chiến lược phát triển vùng nhưng còn nhiều khó khăn, trong đó có đô thị Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Theo đại biểu, Đắk Lắk là đô thị thuộc tỉnh duy nhất cả nước được Bộ Chính trị tại Kết luận 67 và Quốc hội tại Nghị quyết 72 cho thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù từ năm 2023. Kết quả sơ kết bước đầu của địa phương cho thấy những chuyển biến tích cực; quy hoạch chung khu vực đô thị Buôn Ma Thuột cũng đã được công bố theo định hướng trở thành trung tâm vùng.
Để phát huy những kết quả này, đại biểu kiến nghị Chính phủ rà soát, bổ sung các chính sách phù hợp, vượt trội nhằm thúc đẩy Buôn Ma Thuột phát huy vai trò đô thị cấp vùng. Cùng với đó là khai thác những lợi thế đặc trưng của khu vực và cả nước, trong đó có vị thế thủ phủ cà phê Robusta hàng đầu thế giới.
Hạ tầng giao thông và kinh tế rừng mở rộng dư địa phát triển
Từ góc nhìn vùng Trung du và miền núi phía Bắc, đại biểu Tạ Thị Yên (Đoàn ĐBQH tỉnh Điện Biên) và đại biểu Lý Thị Lan (Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang) nhấn mạnh yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng, phát huy kinh tế rừng và tăng cường kết nối các trung tâm sản xuất với thị trường.

Đại biểu Tạ Thị Yên (Đoàn ĐBQH tỉnh Điện Biên) phát biểu.
Đại biểu Tạ Thị Yên bày tỏ đồng tình với mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2027. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng cần đánh giá đầy đủ hơn những đóng góp có ý nghĩa chiến lược của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao.
Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có diện tích rừng lớn, giữ vai trò quan trọng trong điều tiết dòng chảy, bảo vệ nguồn nước và duy trì môi trường sinh thái. Vì vậy, đại biểu đề nghị tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon, bảo đảm người dân trực tiếp bảo vệ rừng được hưởng lợi thiết thực và có thêm sinh kế ổn định.
Một trong những trở ngại lớn đối với doanh nghiệp đầu tư chế biến nông sản tại khu vực này là chi phí vận chuyển cao, trong khi hệ thống kho lạnh và logistics còn thiếu. Theo đại biểu, đầu tư giao thông cần gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu, kết nối trực tiếp các trung tâm sản xuất với cửa khẩu và thị trường tiêu thụ, qua đó giảm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Cùng nhấn mạnh vai trò của hạ tầng, đại biểu Lý Thị Lan cho rằng giao thông là huyết mạch của liên kết kinh tế vùng. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Tuyên Quang có thêm điều kiện phát triển kinh tế rừng, công nghiệp chế biến gỗ, giấy, du lịch và kinh tế cửa khẩu; đồng thời có khả năng kết nối với hệ thống logistics của Phú Thọ, Thái Nguyên và vùng Thủ đô.
Tuy nhiên, các hành lang kinh tế theo Quyết định số 610 của Thủ tướng Chính phủ vẫn gặp khó khăn do hạ tầng giao thông chưa đồng bộ. Từ thực tiễn này, đại biểu kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương lựa chọn những chuỗi liên kết kinh tế có lợi thế, thúc đẩy sự lan tỏa từ các trung tâm công nghiệp lớn như Thái Nguyên, Phú Thọ đến các địa bàn miền núi, biên giới.
Đại biểu cũng đề xuất ưu tiên nguồn lực nâng cấp, hoàn thiện các tuyến giao thông huyết mạch, trong đó có việc nâng cấp cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ lên 4 làn xe hoàn chỉnh; đầu tư để thông tuyến cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang đến cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy; đồng thời nghiên cứu đầu tư trục Thái Nguyên - Tuyên Quang - Lào Cai.



