Khơi thông dư địa thị trường nội địa cho ngành gỗ Việt

Với quy mô khoảng 5-7 tỷ USD cùng sức mua của thị trường hơn 100 triệu dân, dư địa phát triển của ngành gỗ và nội thất Việt Nam ngay tại “sân nhà” còn rất lớn. Tuy nhiên, để biến tiềm năng này thành động lực tăng trưởng thực sự, thị trường nội địa cần được đầu tư bài bản từ tiêu chuẩn, dữ liệu, hệ thống phân phối đến các mắt xích có giá trị gia tăng cao, thay vì chỉ là “phương án dự phòng” khi thị trường bên ngoài gặp khó.

Tìm động lực tăng trưởng từ “sân nhà”

Ngành gỗ và nội thất Việt Nam đã xây dựng được vị thế đáng kể trên thị trường thế giới. Sản phẩm của ngành hiện có mặt tại 176 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có nhiều thị trường với yêu cầu cao về chất lượng, nguồn gốc và tính bền vững. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu của ngành đạt 17,3 tỷ USD. Khoảng 80% giá trị cấu thành sản phẩm được tạo ra trong nước, qua đó đóng góp nguồn ngoại tệ, duy trì xuất siêu và tạo sinh kế cho hàng triệu lao động, người trồng rừng.

Tuy nhiên, trái ngược với năng lực chinh phục các thị trường quốc tế, vị thế của sản phẩm gỗ và nội thất Việt Nam ngay tại sân nhà vẫn chưa tương xứng. Đây là một nghịch lý đáng chú ý khi Việt Nam có hơn 100 triệu dân, tốc độ đô thị hóa nhanh, nhu cầu nhà ở và cải thiện chất lượng không gian sống ngày càng tăng. Cùng với đó, tầng lớp trung lưu ngày càng quan tâm nhiều hơn tới thiết kế, công năng, chất lượng cũng như vật liệu bền vững.

Với quy mô khoảng 5-7 tỷ USD cùng sức mua của thị trường hơn 100 triệu dân, dư địa phát triển của ngành gỗ và nội thất Việt Nam ngay tại “sân nhà” còn rất lớn. Ảnh: Nguồn internet

Với quy mô khoảng 5-7 tỷ USD cùng sức mua của thị trường hơn 100 triệu dân, dư địa phát triển của ngành gỗ và nội thất Việt Nam ngay tại “sân nhà” còn rất lớn. Ảnh: Nguồn internet

Theo ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), với mức chi tiêu bình quân khoảng 50 USD/người/năm, quy mô thị trường gỗ và nội thất trong nước hiện vào khoảng 5 tỷ USD. Một số nghiên cứu cho rằng con số thực tế có thể lên tới gần 7 tỷ USD và hoàn toàn có khả năng vượt 7,3 tỷ USD vào năm 2030 nếu duy trì tốc độ tăng trưởng 7-9%/năm.

Không gian thị trường còn có thể mở rộng đáng kể khi nhu cầu về đồ gỗ không chỉ đến từ các hộ gia đình. Riêng mục tiêu hoàn thành 159.000 căn nhà ở xã hội trong năm 2026 đã mở ra một lượng cầu tiềm năng lớn đối với nội thất. Bên cạnh đó là nhu cầu từ trường học, bệnh viện, trụ sở công, các dự án bất động sản và nhiều công trình khác. Gỗ cũng đang mở rộng phạm vi ứng dụng sang kết cấu công trình, giấy và bao bì, năng lượng sinh học hay các vật liệu sinh học mới.

Dù tiềm năng lớn, khả năng khai thác thị trường vẫn còn nhiều hạn chế. Ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA) phân tích, thị trường trong nước hiện còn phân tán, hệ thống phân phối thiếu đồng bộ, trong khi sự kết nối giữa nhà sản xuất, chủ đầu tư, kiến trúc sư, nhà thiết kế và người tiêu dùng chưa hiệu quả. Doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều đặc thù như đơn hàng nhỏ lẻ, chi phí xây dựng thương hiệu cao, thời gian thanh toán kéo dài và rủi ro thương mại.

Từ góc độ doanh nghiệp, ông Lê Đức Nghĩa, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Gỗ An Cường cho rằng, thị trường nội địa phải được xem là một thị trường độc lập, chứ không phải “phao cứu sinh” của xuất khẩu. Thực tế tại An Cường, thị trường trong nước hiện đóng góp tới 65% doanh thu. Doanh nghiệp xác định cả nội địa và xuất khẩu đều quan trọng và đều đòi hỏi sự đầu tư chuyên nghiệp, đồng bộ từ nguyên liệu, nhân sự, nghiên cứu phát triển đến tiếp thị.

Sự khác biệt còn nằm ở mô hình kinh doanh. Nếu sản phẩm xuất khẩu thường được sản xuất với quy mô lớn và mẫu mã tương đối ổn định, thị trường trong nước lại mang tính “may đo” cao, với nhiều đơn hàng nhỏ và nhu cầu đa dạng. Kênh phân phối phức tạp, thiếu chuẩn hóa, trong khi thời gian thu hồi vốn và thanh toán kéo dài khiến chi phí kinh doanh tăng lên.

Vì vậy, ông Phùng Quốc Mẫn cho rằng, thị trường nội địa không thể tiếp tục được coi là phương án dự phòng khi xuất khẩu gặp khó khăn mà cần được xác lập là một trong hai trụ cột chiến lược của ngành gỗ và nội thất Việt Nam, song hành với xuất khẩu.

Hoàn thiện “hạ tầng thị trường” tạo sức bật

Tiềm năng về sức mua là rất lớn, song điểm nghẽn quan trọng của ngành gỗ trong nước hiện nay lại nằm ở hạ tầng thị trường.

Ông Ngô Sỹ Hoài phân tích, thị trường hiện “có cầu nhưng chưa có hạ tầng thị trường”. Đồ gỗ và nội thất vẫn được cung cấp bởi nhiều hộ gia đình, làng nghề và doanh nghiệp nhưng thiếu chuẩn chung, thiếu minh bạch về xuất xứ, thương hiệu dịch vụ và dữ liệu thị trường.

Hệ quả là người tiêu dùng khó nhận diện sản phẩm hợp pháp, chất lượng cao, còn những doanh nghiệp đầu tư bài bản chưa tạo được lợi thế tương xứng. Bởi vậy, việc hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, cơ sở dữ liệu, cơ chế chứng nhận và truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp bảo vệ người tiêu dùng mà còn tạo nền tảng cho một môi trường cạnh tranh minh bạch hơn.

Cùng với hoàn thiện tiêu chuẩn, mua sắm công xanh được kỳ vọng trở thành một lực kéo cho thị trường. Nhu cầu tương đối ổn định từ nhà ở xã hội, trường học, bệnh viện, trụ sở và các công trình công cộng có thể tạo đầu ra cho sản phẩm gỗ hợp pháp, đạt tiêu chuẩn. Khi thị trường đủ lớn và ổn định, doanh nghiệp có thêm động lực đầu tư sản xuất quy mô lớn, từ đó giảm giá thành, nâng chất lượng và từng bước củng cố niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm trong nước.

Tuy nhiên, mở rộng đầu ra mới chỉ là một phần của bài toán. Để khai thác đầy đủ giá trị từ thị trường nội địa, doanh nghiệp Việt còn phải tiến sâu hơn vào những mắt xích có giá trị gia tăng cao.

Ông Vũ Hải Bằng, Tổng Giám đốc Công ty CP Woodsland cho rằng, giá trị của thị trường nội địa không chỉ nằm ở sản xuất mà còn trải dài qua thiết kế, phân phối, lắp đặt và dịch vụ sau bán hàng. Đây là những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao và tạo nhiều việc làm cho doanh nghiệp trong nước. Nếu doanh nghiệp Việt bỏ ngỏ, doanh nghiệp nước ngoài có thể tham gia và chiếm lĩnh những phân khúc này.

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu còn nhiều biến động, khai thác tốt thị trường hơn 100 triệu dân sẽ giúp ngành gỗ Việt Nam đa dạng hóa đầu ra và nâng khả năng chống chịu trước những cú sốc từ bên ngoài. Khi “hạ tầng thị trường” được hoàn thiện, sản phẩm được chuẩn hóa, minh bạch về nguồn gốc và doanh nghiệp Việt làm chủ được những khâu giá trị cao, dư địa của sân nhà mới thực sự được khơi thông, tạo thêm một động lực tăng trưởng dài hạn song hành với xuất khẩu.

Trà Giang

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/khoi-thong-du-dia-thi-truong-noi-dia-cho-nganh-go-viet-186681.html