TS. Lê Quốc Phương: Bộ Công Thương góp phần quan trọng vào kỷ lục 1.000 tỷ USD kim ngạch xuất nhập khẩu

Xuất nhập khẩu vượt 1.000 tỷ USD sau 10 tháng năm 2026 ghi dấu bước tiến hội nhập của Việt Nam, đồng thời khẳng định vai trò của Bộ Công Thương trong mở rộng thị trường, khai thác FTA và thúc đẩy thương mại.

TS. Lê Quốc Phương, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm thông tin Công nghiệp và Thương mại, Bộ Công Thương đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương xung quanh vấn đề này.

TS. Lê Quốc Phương, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm thông tin Công nghiệp và Thương mại, Bộ Công Thương. Ảnh: Cấn Dũng

TS. Lê Quốc Phương, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm thông tin Công nghiệp và Thương mại, Bộ Công Thương. Ảnh: Cấn Dũng

Việt Nam nâng tầm vị thế trên bản đồ thương mại toàn cầu

- Thưa ông, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam sau 10 tháng năm 2026 đã vượt mốc 1.000 tỷ USD, phản ánh quy mô thương mại ngày càng mở rộng và mức độ hội nhập sâu rộng của nền kinh tế. Dưới góc nhìn chuyên gia, dấu mốc này có ý nghĩa như thế nào đối với vị thế thương mại của Việt Nam?

TS. Lê Quốc Phương: 1.000 tỷ USD kim ngạch xuất nhập khẩu là con số đáng tự hào. Dự kiến cả năm nay, kim ngạch xuất nhập khẩu của chúng ta sẽ đạt khoảng 1.100-1.200 tỷ USD. Đây là kết quả đặc biệt khả quan trong bối cảnh kinh tế thế giới đang đối mặt với nhiều bất ổn, biến động địa chính trị lớn, tác động sâu sắc đến kinh tế toàn cầu. Điều đó cho thấy vị thế thương mại của Việt Nam trên thế giới ngày càng được nâng cao. Hoạt động thương mại của chúng ta đang tăng trưởng mạnh, đưa Việt Nam lên vị trí ngày càng cao trong bản đồ thương mại toàn cầu.

Thực tế, có thể nói, Việt Nam đã trở thành một cường quốc thương mại. Năm ngoái, Việt Nam đứng thứ 18 thế giới về xuất khẩu trong tổng số khoảng 240 nền kinh tế. Với quy mô thương mại hàng hóa vượt mốc 1.000 tỷ USD, Việt Nam sẽ gia nhập nhóm 15 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới.

Khi vượt qua mốc 1.000 tỷ USD, chúng ta sẽ gia nhập “Câu lạc bộ nghìn tỷ USD”, là nhóm khoảng 15 nền kinh tế có quy mô thương mại hàng hóa đạt từ 1.000 tỷ USD trở lên. Trong nhóm này, châu Á có 6 nền kinh tế, châu Âu có 5 và châu Mỹ có 3; ASEAN chỉ có duy nhất Việt Nam.

Điều đó cho thấy, quy mô thị trường cũng như năng lực tham gia thương mại quốc tế của Việt Nam đã gia tăng rất mạnh mẽ. Chúng ta đang có một vị thế đáng kể trong thương mại toàn cầu, đồng thời trở thành mắt xích rất quan trọng trong chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Với vị thế đó, Việt Nam sẽ có tiếng nói ngày càng quan trọng trong thương mại quốc tế.

Một điểm nữa là dấu mốc này cho thấy mức độ hội nhập sâu rộng của Việt Nam với kinh tế thế giới. Hiện nay, chúng ta đã có quan hệ thương mại với hàng trăm nền kinh tế, trong đó có hầu hết các thị trường lớn trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Anh, ASEAN... Nhờ đó, chúng ta có thêm nhiều cơ hội thu hút đầu tư, mở rộng sản xuất, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Chuyển từ tăng trưởng quy mô sang nâng cao giá trị nội địa

- Mặc dù kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng ấn tượng, song nền kinh tế vẫn đối mặt với những vấn đề như phụ thuộc vào khu vực FDI, giá trị gia tăng trong nước chưa cao, năng lực tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp nội địa còn hạn chế. Theo ông, đâu là những điểm nghẽn căn bản cần tháo gỡ để chuyển từ tăng trưởng về quy mô sang nâng cao chất lượng và hiệu quả xuất nhập khẩu?

TS. Lê Quốc Phương: Thực tế, từ cách đây vài năm, tại một số hội thảo, tôi đã từng dự báo Việt Nam sẽ tiến tới mốc 1.000 tỷ USD. Việc đạt được con số này, xét về xu hướng, không phải là điều quá khó dự báo. Nhưng điều quan trọng hơn cả là chúng ta thu được những lợi ích gì từ quy mô thương mại đó. Bởi lẽ, đạt 1.000 tỷ USD hay tiến tới 1.500 tỷ USD không phải là đích đến cuối cùng. Điều cốt yếu là phải làm thế nào để doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp trong nước, thực sự giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động xuất khẩu; đồng thời tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn và chiếm lĩnh được những công đoạn có giá trị cao trong chuỗi sản xuất, xuất khẩu.

Đây mới là thách thức khó khăn nhất. Chúng ta phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng xuất khẩu, từ chỗ chủ yếu dựa vào gia công, lắp ráp, khai thác lợi thế về vốn và lao động giá rẻ sang mô hình dựa trên công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh nội sinh của doanh nghiệp.

Vậy cần tháo gỡ những điểm nghẽn nào để thực hiện được sự chuyển đổi này? Có rất nhiều vấn đề cần giải quyết, nhưng theo tôi, trước hết phải tập trung vào một số điểm chính.

Xuất nhập khẩu lần đầu tiên cán mốc 1000 tỷ USD. Ảnh: Cấn Dũng

Xuất nhập khẩu lần đầu tiên cán mốc 1000 tỷ USD. Ảnh: Cấn Dũng

Thứ nhất, phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Hiện nay, doanh nghiệp trong nước vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt về năng lực tài chính, công nghệ và quản trị. Những hạn chế này khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn, yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.

Thứ hai, điểm nghẽn về khả năng liên kết giữa khu vực doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.

Việt Nam thu hút được lượng vốn FDI rất lớn, hiện nằm trong nhóm khoảng 20 nền kinh tế thu hút FDI hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, tác động lan tỏa của khu vực FDI đối với doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa, vẫn còn khá hạn chế.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp FDI có kim ngạch xuất khẩu rất lớn nhưng vẫn phải nhập khẩu phần lớn nguyên vật liệu, linh kiện, phụ kiện từ nước ngoài do doanh nghiệp trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu cung ứng. Nguyên nhân một phần là công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam phát triển còn chậm; trình độ công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo còn yếu.

Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản trị doanh nghiệp còn hạn chế, trong khi chi phí logistics vẫn ở mức cao. Mặc dù Việt Nam đã tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA), thuộc nhóm quốc gia có độ mở thương mại lớn trong ASEAN, nhưng việc khai thác các cơ hội từ những hiệp định này vẫn chưa thực sự hiệu quả.

Một nguyên nhân quan trọng là các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phát triển xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp chế biến, chế tạo hiện chưa tạo thành một hệ thống đồng bộ, thống nhất và có tính liên kết chặt chẽ.

Chính những điểm nghẽn này khiến tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào mở rộng quy mô, trong khi khả năng gia tăng giá trị nội địa và tạo sức lan tỏa cho nền kinh tế còn hạn chế.

Chính sách mở thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng cơ hội xuất khẩu

- Trong những năm qua, Bộ Công Thương đã triển khai nhiều giải pháp nhằm phát triển thị trường xuất khẩu, đàm phán và thực thi các FTA, xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ rào cản và tận dụng cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế. Theo ông, những chính sách và hoạt động này đã tác động như thế nào đến kết quả xuất nhập khẩu của Việt Nam?

TS. Lê Quốc Phương: Thực tế, Bộ Công Thương triển khai rất nhiều hoạt động, không chỉ trong lĩnh vực thương mại mà còn bao gồm cả phát triển sản xuất, công nghiệp. Bởi lẽ, phải có sản xuất mới có hàng hóa để xuất khẩu.

Về thương mại, phải kể đến hoạt động đàm phán, ký kết và thực thi các FTA. Đây là một trong những hoạt động quan trọng, góp phần mở rộng thị trường, tạo cơ hội và động lực thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu.

Đến nay, Việt Nam đã ký kết và tham gia 17 FTA, đồng thời vừa có thêm FTA thứ 18 với khối đối tác EFTA. Với số lượng FTA đã ký kết, Việt Nam hiện đứng thứ hai trong ASEAN, sau Singapore với 26 FTA. Đây là một nỗ lực rất lớn, trong đó Bộ Công Thương giữ vai trò chủ trì trong quá trình đàm phán, ký kết và tổ chức thực thi các hiệp định.

Các FTA mang lại nhiều lợi ích thiết thực, trước hết là mở rộng đáng kể thị trường xuất khẩu cho hàng hóa Việt Nam. Trong đó, có nhiều thị trường lớn như EU, Nhật Bản, Canada, Australia, cũng như các thị trường tại khu vực Nam Mỹ và một số thị trường mới khác.

Nhờ đó, hàng hóa Việt Nam, đặc biệt là những mặt hàng có thế mạnh như nông sản, thủy sản, dệt may, da giày, đồ gỗ, điện tử và điện máy, có thêm nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp cận thị trường quốc tế. Đối với nhóm hàng điện tử, điện máy, hoạt động xuất khẩu còn có sự đóng góp đáng kể của các doanh nghiệp FDI.

Bên cạnh hoạt động đàm phán, ký kết và thực thi các FTA, một hoạt động quan trọng khác là hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng hiệu quả các FTA.

Theo số liệu Bộ Công Thương công bố cách đây vài tháng, đến nay đã có khoảng 1,2 triệu bộ C/O (giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa) theo các mẫu ưu đãi của những FTA được cấp. Đây là một con số rất lớn, thể hiện nỗ lực trong việc hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng các ưu đãi thuế quan từ các hiệp định.

Hoạt động thứ hai là xúc tiến thương mại. Các chương trình xúc tiến thương mại góp phần thúc đẩy xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường, mặt hàng và cơ cấu xuất khẩu. Bộ Công Thương hiện triển khai nhiều chương trình xúc tiến thương mại, trong đó Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại năm 2026 dự kiến có hơn 100 đề án với nhiều hoạt động cụ thể.

Đáng chú ý, phương thức xúc tiến thương mại đang từng bước chuyển đổi. Nếu trước đây hoạt động này chủ yếu tập trung vào quảng bá sản phẩm thì hiện nay đang chuyển mạnh sang kết nối doanh nghiệp Việt Nam với các nhà nhập khẩu, nhà phân phối và mạng lưới đối tác quốc tế. Đây là cách tiếp cận ở mức độ cao hơn, giúp doanh nghiệp không chỉ giới thiệu sản phẩm mà còn tiếp cận trực tiếp khách hàng, mở rộng đơn hàng và phát triển thị trường xuất khẩu.

Hoạt động thứ ba là hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ các rào cản thương mại. Bộ Công Thương triển khai nhiều giải pháp như cảnh báo sớm nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại, chống bán phá giá, chống trợ cấp; hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với các vụ việc điều tra và xử lý những vướng mắc liên quan đến quy tắc xuất xứ, an toàn thực phẩm, chứng nhận chất lượng. Đồng thời, doanh nghiệp cũng được hướng dẫn đáp ứng các yêu cầu mới về phát thải carbon, tiêu chuẩn xanh và các quy định của thị trường nhập khẩu.

Ngoài ra, Bộ Công Thương còn hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh, cũng như tiếp cận nguồn máy móc, công nghệ, nguyên liệu và linh kiện phục vụ sản xuất, xuất khẩu.

Thúc đẩy khai thác FTA và chuyển đổi xanh

- Để xuất nhập khẩu tiếp tục là động lực quan trọng đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, Việt Nam cần một chiến lược phát triển thương mại có tính dài hạn, gắn với nâng cao năng lực sản xuất trong nước và khả năng chống chịu trước biến động bên ngoài. Theo ông, Bộ Công Thương cần ưu tiên những nhóm giải pháp chính sách nào trong thời gian tới để khai thác hiệu quả mạng lưới FTA và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh?

TS. Lê Quốc Phương: Thứ nhất, phải khai thác FTA một cách toàn diện và thực chất hơn. Theo tôi, Bộ Công Thương cần xác định rõ những ngành hàng, thị trường và nhóm doanh nghiệp có khả năng tận dụng FTA hiệu quả nhất để tập trung nguồn lực hỗ trợ. Trên cơ sở đó, cần xây dựng các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng khai thác riêng từng hiệp định lớn, thay vì chỉ tuyên truyền chung về các FTA.

Thứ hai, cần xây dựng các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh theo từng nhóm ngành hàng cụ thể.

Hiện nay, các thị trường xuất khẩu lớn đang đưa ra ngày càng nhiều quy định về môi trường và phát triển bền vững. Chẳng hạn, tại EU, doanh nghiệp phải đối mặt với hàng loạt yêu cầu mới như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), Quy định chống phá rừng (EUDR). Bên cạnh đó, các quốc gia thành viên EU cũng có thể đưa ra những yêu cầu riêng về nguyên liệu tái chế, sản xuất bền vững và bảo vệ môi trường. Vì vậy, Bộ Công Thương cần xây dựng các chương trình hỗ trợ chuyển đổi xanh theo đặc thù từng ngành hàng, thay vì áp dụng một chương trình chung cho tất cả.

Ví dụ, đối với cà phê và cao su, cần tập trung vào truy xuất nguồn gốc vùng trồng, kiểm soát nguy cơ phá rừng và xây dựng hệ thống dữ liệu đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Đối với dệt may, da giày, cần quan tâm đến việc sử dụng nguyên liệu bền vững, tiết kiệm nước, giảm ô nhiễm trong sản xuất, kiểm soát hóa chất và tăng cường sử dụng năng lượng sạch.

Bên cạnh chuyển đổi xanh, xúc tiến thương mại cũng cần đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, ưu tiên kết nối những doanh nghiệp có sản phẩm xanh, quy trình sản xuất bền vững và mức phát thải thấp với các nhà nhập khẩu, nhà phân phối quốc tế.

Đồng thời, cần phát triển đồng bộ hạ tầng hỗ trợ thương mại, từ hệ thống phòng thí nghiệm, kiểm định, chứng nhận chất lượng đến hạ tầng logistics xanh; có cơ chế tín dụng phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo và cải tiến quy trình sản xuất.

TS. Lê Quốc Phương khẳng định, doanh nghiệp vẫn phải là chủ thể trực tiếp thực hiện quá trình chuyển đổi và nâng cao năng lực cạnh tranh. Nhưng Nhà nước, trong đó có Bộ Công Thương, cần tạo dựng môi trường, cơ chế và hệ sinh thái thuận lợi để doanh nghiệp có thể phát triển và vươn lên trong chuỗi giá trị toàn cầu.

- Xin cảm ơn ông!

Phương Lan thực hiện

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/ts-le-quoc-phuong-bo-cong-thuong-gop-phan-quan-trong-vao-ky-luc-1-000-ty-usd-kim-ngach-xuat-nhap-khau-479339.html