Tín chỉ các-bon rừng và khoảng trống tiếng nói của phụ nữ trong quản trị
Quá trình sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường đang thu hút sự quan tâm lớn của dư luận, đặc biệt là các quy định hoàn thiện thể chế cho thị trường các-bon. Trong bức tranh chung về chuyển đổi xanh, thương mại hóa dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng được xem là bước đi chiến lược, vừa tạo nguồn lực tài chính bền vững cho công tác bảo vệ rừng, vừa mở ra cơ hội nâng cao sinh kế cho người dân địa phương.

Ảnh minh họa
Tuy nhiên, đằng sau những con số về diện tích hay kinh phí chi trả, một vấn đề mang tính quản trị sâu sắc đang đặt ra, đó là vị thế và tiếng nói của phụ nữ trong quá trình phân bổ, quyết định sử dụng nguồn thu này.
Tín chỉ các-bon rừng: Từ dấu ấn lao động đến thực tế thụ hưởng
Về bản chất, tín chỉ các-bon rừng là chứng chỉ đại diện cho một tấn CO2 (hoặc CO2 tương đương) được hấp thụ và lưu giữ nhờ các hoạt động bảo vệ, trồng mới hoặc phục hồi rừng. Khi các quốc gia hay doanh nghiệp có nhu cầu bù đắp lượng phát thải, họ mua lại các tín chỉ này. Nguồn tiền từ thị trường các-bon vì thế trở thành một dòng tài chính xanh đổ về các vùng lâm nghiệp.
Mối liên kết giữa tín chỉ các-bon rừng và phụ nữ không đơn thuần là câu chuyện phân bổ phúc lợi, mà xuất phát từ chính đóng góp trực tiếp của họ trong quá trình tạo ra "hàng hóa" các-bon. Tín chỉ được đo đạc dựa trên lượng CO2 giảm phát thải hoặc được hấp thụ thêm nhờ rừng được bảo vệ tốt hơn, thảm thực vật dày hơn và diện tích rừng được mở rộng.

Trong bức tranh chung về quản lý tài nguyên và phát triển lâm nghiệp bền vững, phụ nữ tại vùng nông thôn, miền núi không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà chính là lực lượng trực tiếp, thầm lặng duy trì và bảo vệ màu xanh của rừng.
Trong chuỗi hoạt động đó, phụ nữ tại các vùng nông thôn, miền núi chính là lực lượng lao động thầm lặng nhưng trực tiếp duy trì "nguồn hấp thụ" này. Từ khâu gieo ươm hạt giống, chăm sóc cây rừng trồng mới, cho đến việc thu hái lâm sản phụ có kiểm soát để không làm suy thoái hệ sinh thái, người phụ nữ tham gia vào hầu hết các công đoạn bảo tồn đa dạng sinh học.
Minh chứng sinh động cho điều này là câu chuyện của chị Lê Thị Thinh, một người phụ nữ Pa Cô tại thôn A Niêng, Lê Triêng 1, xã A Lưới 1, thành phố Huế. Trở thành thành viên Ban Quản lý Rừng Cộng đồng, vượt qua những định kiến giới cho rằng "phụ nữ không thể ở trong rừng cả ngày" hay rào cản về chăm sóc con nhỏ, chị Thinh đã tự tin dẫn đầu các chuyến tuần tra quản lý gần 1.500 ha rừng tự nhiên, thành thạo ứng dụng công nghệ SMART Mobile để ghi nhận dữ liệu bảo vệ rừng.
Bằng việc trực tiếp giữ rừng và ngăn chặn khai thác trái phép, công sức và tri thức bản địa của những người phụ nữ như chị Thinh chính là một phần nguồn lực đầu vào tạo nên giá trị gia tăng cho mỗi tín chỉ các-bon rừng. Nhấn mạnh về vai trò chủ thể này, chuyên gia độc lập về giới Nguyễn Thị Lan nhận định: "Phụ nữ vừa có thể là nhóm chịu những tác động bất lợi của biến đổi môi trường và quá trình chuyển đổi, vừa là những chủ thể có kiến thức, năng lực và khả năng tạo ra thay đổi".

Chị Lê Thị Thinh
Thực tế triển khai thí điểm chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon rừng (ERPA) tại 6 tỉnh Bắc Trung Bộ cho thấy dòng tiền từ tín chỉ các-bon đã thực sự về tới tận tay người dân, mang lại nguồn kinh phí bổ sung thiết thực cho công tác bảo vệ rừng và cải thiện đời sống. Mặc dù vậy, quá trình chi trả ở cấp hộ gia đình cũng bộc lộ khoảng trống quản trị mang tính giới.
Do thói quen pháp lý và chuẩn mực xã hội phổ biến, người đứng tên chủ hộ gia đình nhận khoản tiền chi trả thường là người đàn ông. Khi nguồn thu chuyển trực tiếp vào tài khoản hoặc giao cho chủ hộ nam giới, việc người phụ nữ - những lao động trực tiếp gắn bó với rừng - có được thảo luận, đề xuất hay tham gia quyết định khoản tiền đó được chi dùng ra sao vẫn là một dấu hỏi. Khi sự đóng góp của phụ nữ trực tiếp tạo ra dòng doanh thu từ các-bon, họ hoàn toàn có quyền và cần được công nhận là một bên liên quan bình đẳng, có tiếng nói quyết định trong quản trị và phân bổ nguồn lợi kinh tế này.
Cơ chế chi trả về tới hộ nhưng vẫn thiếu chỉ báo giới
Sự ra đời của Nghị định 180/2026/NĐ-CP từ giữa tháng 7/2026 đã đặt nền móng pháp lý thống nhất cho dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng tại Việt Nam. Văn bản này quy định toàn diện từ việc lập dự án, xác định kết quả giảm phát thải đến cách thức chi trả. Nguồn tiền thu được có thể chuyển trực tiếp hoặc ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng, mở rộng đối tượng thụ hưởng tới tận hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư. Đối với các chủ rừng là hộ gia đình hay cộng đồng, toàn bộ khoản kinh phí nhận được sẽ dùng để đầu tư trở lại cho công tác quản lý rừng và nâng cao đời sống.
Chính sách đã đưa dòng tài chính xanh tiếp cận sát hơn với địa bàn cơ sở. Mặc dù vậy, khi nguồn tiền về tới thôn bản hay từng hộ gia đình, một thực tế đặt ra là “hộ gia đình” hay “cộng đồng dân cư” vốn được coi là một đơn vị tập thể chung. Việc một cộng đồng nhận được lợi ích hay một gia đình nhận tiền chi trả chưa phản ánh được cấu trúc quản trị bên trong: Ai là người trực tiếp tham gia thảo luận và liệu người phụ nữ có quyền quyết định khoản thu nhập đó được chi dùng ra sao.
Chuyên gia Nguyễn Thị Lan nhấn mạnh: "Cách tiếp cận trung tính giới, đối xử tất cả mọi người như nhau, đôi khi vô tình lại tạo ra những bất bình đẳng giới gián tiếp. Vấn đề cần quan tâm không chỉ là phụ nữ có tham gia hay không, mà là họ tham gia ở vị trí nào, có quyền ra quyết định hay không và có được hưởng lợi công bằng hay không." Dù quy định hiện hành yêu cầu phải tham vấn cộng đồng và bảo đảm cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng, nhưng các văn bản hướng dẫn hiện chưa đặt ra chỉ tiêu báo cáo tách biệt theo giới. Các mẫu biểu kế hoạch tài chính chỉ ghi nhận số hộ, diện tích và tổng kinh phí, khiến cơ quan quản lý thiếu dữ liệu thực tế để đánh giá chính xác sự tham gia của nữ giới.
Từ minh bạch thực tiễn đến yêu cầu chuyển đổi chính sách
Thực tiễn từ các chương trình tài chính các-bon rừng tại Việt Nam cho thấy việc lồng ghép yếu tố giới là hoàn toàn khả thi. Tiêu biểu như Chương trình EnABLE thuộc FCPF tại 6 tỉnh Bắc Trung Bộ đã tập trung nâng cao năng lực cho phụ nữ dân tộc thiểu số. Đầu năm 2026, chương trình đưa vào sử dụng công cụ số hóa ghi nhận quá trình ra quyết định, quản lý nguồn tiền và tích hợp tiếng bản địa như Cơ Tu, Pa Kô để xóa bỏ rào cản ngôn ngữ. Mô hình này chứng minh rằng việc theo dõi xem ai thực sự tham gia quyết định có ý nghĩa then chốt không kém số tiền đã được chi trả.

Phát huy vai trò của phụ nữ trong công tác quản lý bảo vệ rừng
Bên cạnh đó, việc tổ chức tham vấn cộng đồng cũng cần tránh rơi vào hình thức. Theo chuyên gia Nguyễn Thị Lan, việc quy định một tỷ lệ phần trăm nhất định không hẳn là thước đo duy nhất: "Có mặt tại cuộc họp không đồng nghĩa với có tiếng nói và càng không đồng nghĩa với ý kiến được tiếp thu. Điều quan trọng nhất là phải bảo đảm sự tham gia có ý nghĩa và thực chất của phụ nữ và người dân bị ảnh hưởng." Phụ nữ nông thôn thường gặp rào cản về thời gian họp, công việc chăm sóc gia đình hay hạn chế về tiếp cận thông tin kỹ thuật, đòi hỏi quy trình tham vấn phải được thiết kế linh hoạt và bao trùm hơn.
Hướng tới đợt sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, việc xây dựng cơ chế giám sát lồng ghép giới ngay từ khâu thiết kế chính sách là yêu cầu cấp thiết. Việc bổ sung các chỉ báo thực thi đơn giản như tỷ lệ nam nữ dự họp, người đại diện ký kết cam kết hay các nhóm thụ hưởng hỗ trợ sinh kế sẽ giúp chính sách vận hành minh bạch hơn. Như khẳng định của chuyên gia Nguyễn Thị Lan, mục tiêu cốt lõi của lồng ghép giới trong pháp luật môi trường chính là "chuyển từ 'bình đẳng giới như một nguyên tắc' sang 'bình đẳng giới như một kết quả có thể đo lường và chịu trách nhiệm giải trình'."
Dữ liệu tín chỉ các-bon rừng Việt Nam và dư địa tài chính xanh
Với hơn 14,7 triệu hecta rừng và tỷ lệ che phủ đạt trên 42%, hệ sinh thái rừng Việt Nam có khả năng hấp thụ khoảng 57 đến 70 triệu tấn CO2 mỗi năm.
Tính đến nay, thông qua Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA), Việt Nam đã chuyển nhượng thành công 10,3 triệu tín chỉ các-bon rừng cho Ngân hàng Thế giới, thu về 51,5 triệu USD (tương đương khoảng 1.250 tỷ đồng). Hơn 70% nguồn kinh phí này đã được phân bổ trực tiếp cho trên 11.900 hộ gia đình, chủ rừng và cộng đồng dân cư địa phương để phục vụ công tác quản lý, bảo vệ rừng và cải thiện sinh kế.
Dự báo khi thị trường các-bon vận hành toàn diện với mức giá trung bình từ 5 đến 10 USD cho mỗi tấn CO2, nguồn thu từ dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon rừng của Việt Nam có thể đạt từ 200 đến 300 triệu USD mỗi năm (khoảng 5.000 đến 7.500 tỷ đồng), tạo ra dư địa tài chính xanh vô cùng lớn cho phát triển bền vững.
