Nghị quyết số 27-NQ/TW nêu định hướng phát triển hệ thống đô thị hiện đại và các cực tăng trưởng của vùng, ưu tiên hai cực tăng trưởng lớn nhất đất nước là Hà Nội và TP HCM.
Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nêu mục tiêu phấn đấu đến năm 2045, xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế.
Nghị quyết 27 xác định phát triển y tế vùng toàn diện, hiện đại, kết nối, hướng tới chăm sóc sức khỏe toàn dân.
Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới đặt ra nhiệm vụ phát triển văn hoá các vùng theo hướng đồng bộ, hiện đại, gắn với hình thành các không gian văn hóa sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của nhân dân; lấy bản sắc văn hóa và giá trị truyền thống các vùng là nguồn lực phát triển.
Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu dịch chuyển mạnh mẽ từ quản lý phân tán sang quản trị thống nhất không gian phát triển và nguồn lực quốc gia. Đây được xác định là bước chuyển chiến lược thứ hai quan trọng nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Nghị quyết số 19-NQ/TW đánh dấu một bước ngoặt mang tính chiến lược, định hình mô hình phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới với tầm nhìn dài hạn đến năm 2045 và 2130.
Không thể có mô hình phát triển mới nếu thể chế vẫn theo cách cũ; không thể có tăng trưởng nhanh và bền vững nếu quản trị quốc gia không đổi mới.
81 năm sau ngày Quốc khánh, Việt Nam đang bước vào một chặng đường phát triển mà những động lực truyền thống không còn đủ để tạo ra dư địa tăng trưởng mới. Bên cạnh đường sá, nhà máy, cảng biển, đất nước cần những “công trình” của thời đại số - dữ liệu, AI, hạ tầng tính toán, nhân lực công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo - để biến tri thức thành năng suất, công nghệ thành giá trị và đổi mới thành sức cạnh tranh.
(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã tạo dựng nền tảng phát triển mới, với quy mô kinh tế, năng lực sản xuất và vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao.
Từ yêu cầu tạo động lực mới cho phát triển sau Hội nghị Trương ương 3, Việt Nam đứng trước nhu cầu mở rộng các không gian phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời phát huy hiệu quả không gian truyền thống, nâng cao năng lực quản trị và chủ động ứng phó với những rủi ro mới.
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tăng trưởng và mở rộng hội nhập, mà quan trọng hơn là chuyển những thành quả đã đạt được thành năng lực phát triển mới, có chiều sâu, sức chống chịu và khả năng tự chủ cao hơn.
Thành quả 40 năm Đổi mới là bệ phóng vững chắc để Việt Nam tự tin đặt ra mục tiêu tăng trưởng cao khi bước vào giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, điều này chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành năng lực tự chủ của nền kinh tế, sức mạnh của doanh nghiệp Việt Nam và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
Đổi mới mô hình phát triển đang trở thành yêu cầu cấp thiết để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam thịnh vượng.
Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đã bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng cao, xây dựng đất nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Trong kỷ nguyên chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao cho dân tộc Việt Nam quyền lựa chọn, kiến tạo con đường phát triển kinh tế vì lợi ích của đất nước và nhân dân. Từ thời khắc ấy, khát vọng độc lập gắn liền với khát vọng xây dựng một quốc gia tự chủ, giàu mạnh, trong đó thành quả phát triển phải nâng cao đời sống và mở rộng cơ hội tiến bộ cho mọi người dân.
Phóng viên TTXVN thực hiện chùm bài "Thành phố Hồ Chí Minh đổi mới thể chế, mở dư địa tăng trưởng mới" phản ánh nỗ lực kiến tạo mô hình kinh tế mới và nâng cao năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Xây dựng và nâng tầm đội ngũ cán bộ cấp chiến lược là bố trí, sắp xếp nhân sự trong bộ máy hành chính, là chiến lược đầu tư căn bản mang tính quyết định cho tương lai phát triển bền vững của quốc gia.
Đổi mới mô hình phát triển đặt ra yêu cầu thể chế phải thực sự mở đường, tạo không gian cho các nguồn lực được huy động và sức sáng tạo trong xã hội được phát huy.
Nghị quyết số 19 hiện thực hóa đường lối của Đại hội Đảng, là ngọn đuốc soi đường định vị và giải pháp đột phá định hình một Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của sự bứt phá, phát triển thịnh vượng.
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, những cách làm từng phù hợp trong giai đoạn trước không còn đủ để đáp ứng yêu cầu mới.
Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 28/8/2026).
Nghị quyết số 19-NQ/TW xác lập mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, bền vững, hội nhập, lấy khoa học, công nghệ làm động lực cho khát vọng phát triển năm 2045.
Ngày 2/9/1945, trên Quảng trường Ba Đình, một dân tộc vừa giành lại độc lập đã tuyên bố với thế giới quyền tự quyết định vận mệnh của mình. Đó cũng là sự mở đầu cho hành trình người Việt Nam tự kiến tạo tương lai của chính mình.
Bốn thập kỷ sau khi Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã đi một chặng đường dài, đủ thế và lực để trở thành một chủ thể tích cực, có trách nhiệm trong đời sống quốc tế. Với các tổ chức và giới học giả quốc tế, đằng sau đó là một quá trình thay đổi sâu sắc về tư duy phát triển của đất nước: từ mở cửa để thoát khỏi khó khăn, chủ động hội nhập để tạo động lực phát triển, cho đến tiếp tục đổi mới để vươn mình trong kỷ nguyên mới.
Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã xác định những định hướng lớn nhằm tạo đột phá về thể chế, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực. Trong bối cảnh đó, xây dựng năng lực phát triển mới là yêu cầu then chốt để cụ thể hóa các định hướng chiến lược, hướng tới mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.
Trong giai đoạn phát triển mới, nâng cao năng lực quản trị và thực thi không chỉ là yêu cầu cải cách bộ máy nhà nước, mà phải nhìn nhận như một bộ phận cấu thành của năng lực phát triển. Quản trị quốc gia phải chuyển từ tư duy quản lý những gì đang có sang chủ động kiến tạo năng lực mới; từ giải quyết công việc sang tạo ra kết quả; từ phản ứng trước các vấn đề sang chuẩn bị năng lực thích ứng với những thay đổi chưa thể dự báo đầy đủ.
Nghị quyết của Đảng đã xác lập định hướng đổi mới mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo và bền vững. Để hiện thực hóa đường lối chiến lược này, Quốc hội giữ vai trò trung tâm trong việc chuyển đổi tư duy lập pháp từ “quản lý” sang “kiến tạo”, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và khơi thông mọi nguồn lực cho đất nước.
81 năm kể từ ngày Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Việt Nam đã đi qua một hành trình đặc biệt: từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu những tổn thất nặng nề của chiến tranh đến một quốc gia có nền kinh tế quy mô hơn 500 tỷ USD, hội nhập sâu rộng và ngày càng khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Những thành tựu của công cuộc Đổi mới tạo nên nền tảng quan trọng, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới mô hình phát triển, tạo dựng những động lực mới để đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn.
Đại hội XIV của Đảng mở ra một chặng đường phát triển mới với mục tiêu rất cao: Đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Nhưng phía sau những mục tiêu ấy là yêu cầu lớn hơn: Xây dựng năng lực phát triển mới của quốc gia.
Trong bối cảnh khoa học-công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số (CĐS) đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, mô hình quản trị, cấu trúc của nền kinh tế toàn cầu, yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đối với đất nước ta trở nên hết sức cấp thiết. Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Kết luận số 18-KL/TW ngày 2-4-2026 về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “hai con số” (Kết luận 18).
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam xác định yêu cầu chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, tài nguyên, lao động và gia công sang dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Trong giai đoạn phát triển mới, chất lượng thể chế sẽ quyết định chất lượng tăng trưởng. Nền thể chế biết kiến tạo năng lực sẽ tạo ra động lực phát triển mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, mở rộng không gian phát triển cho nhiều thế hệ mai sau.
Đảng ủy Kiểm toán nhà nước (KTNN) vừa ban hành Chương trình hành động số 1259-CTr/ÐU thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Chương trình hành động số 33-CTr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị về đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam.
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam cần được nhìn nhận không chỉ như một văn kiện định hướng kinh tế, mà như một yêu cầu tái cấu trúc phương thức phát triển của đất nước trong giai đoạn lịch sử mới.
Việt Nam cần chuyển từ tăng trưởng dựa vào lao động giá rẻ sang mô hình dựa trên tri thức, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, tạo giá trị cao.
Nghị quyết 19-NQ/TW đang mở ra một cách tiếp cận mới về phát triển: không chỉ tìm thêm nguồn lực hay động lực tăng trưởng, mà quan trọng hơn là đổi mới mô hình phát triển.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nhân lực chất lượng cao được xác định là những động lực chính cho mô hình tăng trưởng mới, khi Việt Nam đặt mục tiêu GDP tăng bình quân từ 10% mỗi năm giai đoạn 2026-2030.
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chủ động kiến tạo một mô hình phát triển mới, khi những lợi thế truyền thống như lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên và mở rộng quy mô sản xuất dần thu hẹp.
Bước vào giai đoạn 2026-2030, thành phố Hà Nội đang tập trung tái cấu trúc sâu sắc mô hình tăng trưởng, xác định chuyển đổi số và phát triển khoa học - công nghệ là động lực trọng tâm, nguồn lực sản xuất mới, đây không chỉ là lựa chọn chiến lược để bứt phá tăng trưởng hai con số, mà còn là chìa khóa khơi thông mọi nguồn lực xã hội, đưa thủ đô vươn cấp độ phát triển mới trong kỷ nguyên tri thức.
Sáng 20/8, tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư giới thiệu và trao đổi chuyên đề: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, “là đạo đức, là văn minh”, đảm đương sứ mệnh lãnh đạo, cầm quyền trong kỷ nguyên phát triển mới.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đề ra những mục tiêu quan trọng nhằm phát triển đất nước Việt Nam đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, với đời sống nhân dân được nâng cao. Nghị quyết quan trọng này chỉ được khẳng định đầy đủ khi được tổ chức thực hiện bằng hành động quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.
Trong bối cảnh thế giới ngày càng khó đoán, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần chuyển từ tư duy chạy theo tốc độ tăng trưởng sang xây dựng mô hình phát triển dựa trên năng suất, linh hoạt và khả năng chống chịu tốt hơn trước những biến động mới.
Chiều 18-8, Bộ Công an, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Hội đồng Lý luận Trung ương đồng tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Tư duy lý luận mới về an ninh toàn diện, bao trùm, kiến tạo phát triển trong quản trị quốc gia hiện đại, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Ngày 18/8, hội thảo khoa học cấp quốc gia "Tư duy lý luận mới về an ninh toàn diện, bao trùm, kiến tạo phát triển trong quản trị quốc gia, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa" được tổ chức tại Hà Nội.
Chỉ khi doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, những cải cách về thể chế, hạ tầng và công nghệ mới có thể chuyển hóa thành động lực tăng trưởng thực chất.
Kinh tế Việt Nam đã duy trì đà tăng trưởng tích cực trong nhiều năm nhưng mô hình tăng trưởng cũ đã tồn tại nhiều điểm nghẽn, trong khi thách thức mới liên tục xuất hiện.
Tại hội thảo “Xác lập mô hình tăng trưởng mới gắn với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, đổi mới mô hình phát triển kinh tế dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030” diễn ra ngày 17/8, các ý kiến cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần thay đổi cách thức tạo ra tăng trưởng, chuyển từ dựa nhiều vào vốn và lao động sang nâng cao năng suất, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn lực.
Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là yêu cầu về tăng trưởng kinh tế mà trước hết là đổi mới tư duy phát triển và phương thức quản trị.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, quản trị và cạnh tranh toàn cầu, yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng không chỉ nhằm duy trì tốc độ tăng cao hơn, quan trọng hơn là tạo dựng những năng lực phát triển mới cho con người, doanh nghiệp và quốc gia.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (Al) đang tạo ra những thay đổi sâu sắc đối với kinh tế, xã hội và quản trị quốc gia việc kiến tạo và không ngừng nâng cao năng lực nội sinh cần trở thành lựa chọn chiến lược để xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững, hùng cường, vì hạnh phúc của Nhân dân.
Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã mở ra nhiều không gian phát triển mới. Nhưng để chuyển hóa những tiềm năng này thành nền tảng bứt phá cho phát triển kinh tế-xã hội, đòi hỏi cần thay đổi tư duy, nâng cao năng lực quản trị, tăng cường chất lượng thể chế và khả năng làm chủ khoa học, công nghệ.
Ngày 15/8, tại Hưng Yên, Viện Kinh tế chính trị học (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) và Trường Đại học Thái Bình (UBND tỉnh Hưng Yên) phối hợp tổ chức hội thảo khoa học “Thể chế phát huy kết quả chuyển hóa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thành lực lượng sản xuất trực tiếp: Thực trạng và những vấn đề đặt ra".
Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao không còn chỉ là một lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu để thực hiện khát vọng trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Đảng, Nhà nước Việt Nam đã xác lập mô hình phát triển mới, trong đó tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế được xác định là những động lực tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế.
Mỗi giai đoạn lịch sử của dân tộc đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính bước ngoặt, tầm nhìn chiến lược, bảo vệ đất nước và mở đường cho sự phát triển thịnh vượng.
Muốn tạo dư địa tăng trưởng bền vững, Việt Nam cần chuyển mạnh từ tư duy dựa vào mở rộng nguồn lực sang nâng cao năng lực công nghệ, đổi mới quản trị và chất lượng thể chế. Đây là những nội dung được các chuyên gia tập trung thảo luận tại Hội thảo “Chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thúc đẩy năng suất quốc gia”, diễn ra ngày 14/8 tại TPHCM.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được chuyển hóa thành năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì vậy, hoàn thiện chính sách theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm đang là yêu cầu quan trọng để nâng năng suất quốc gia.
Các chuyên gia cho rằng chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải được đo bằng năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh, với doanh nghiệp là trung tâm của quá trình thực thi.
Nghị quyết số 22-NQ/TW về Chiến lược An ninh quốc gia được Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành ngày 28/7/2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy, nhận thức và phương thức bảo vệ an ninh quốc gia của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới.
Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là thay đổi cách thức tăng trưởng, mà trước hết là tạo dựng những điều kiện để các nguồn lực được giải phóng và chuyển hóa thành năng lực phát triển thực tế. Trong đó, thể chế phải trở thành nguồn lực và lợi thế cạnh tranh; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và con người phải trở thành những động lực trực tiếp; còn năng lực tổ chức thực hiện phải biến chủ trương, chính sách thành kết quả cụ thể. Đây là những yêu cầu then chốt để Việt Nam hình thành năng lực tăng trưởng cao, liên tục và bền vững trong giai đoạn mới.
Bước chuyển sang mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người có ý nghĩa nền tảng, quyết định năng lực cạnh tranh dài hạn của Việt Nam. Phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn PGS.TS Trần Lê Hưng, Đại học Gustave Eiffel (Pháp) về chủ đề này.
Nhìn trong tổng thể, các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 3 không tồn tại độc lập mà bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau. Đổi mới mô hình phát triển tạo nên tư duy mới; phát triển biển và hoàn thiện chính sách đất đai mở rộng không gian và nguồn lực phát triển; đổi mới tổ chức bộ máy nâng cao năng lực quản trị; còn các nghị quyết về xã hội, an ninh và môi trường tạo nền tảng để quá trình phát triển diễn ra ổn định, bền vững.
Qua 40 năm đổi mới, quy mô, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam không ngừng được nâng cao.
Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên. Tiếp đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28-7-2026 Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV "về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam" tiếp tục làm sâu sắc hơn nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số. Đây không chỉ là yêu cầu tìm kiếm thêm những động lực tăng trưởng, mà là quá trình kiến tạo một trình độ phát triển mới, dựa ngày càng nhiều hơn vào năng suất, tri thức, công nghệ, con người và năng lực quản trị quốc gia.